- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!CHÂU!THÀNH! TỈNH!KIÊN!GIANG! ! Bản án số: 44/2019/HNGĐ-ST" Ngày: 17-10-2019" |
V/v:“Tranh chấp ly hôn”
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CHÂU!THÀNH,!TỈNH!KIÊN!GIANG!
- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Pì Sách!
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Hợp;
2. Bà Huỳnh Phương Lan.
- Thư" ký" phiên"tòa:" Bà Lữ Cẩm Nhung- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa-Ông Lâm Sển- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 228/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019 về "Tranh chấp"ly hôn " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXX-ST, ngày 11 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:!Chị Dương Thị Phượng T,!sinh năm 1990;
Địa chỉ: ấp Hòa Phước, xã Thạnh Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Chổ ở hiện nay: ấp P, xã M, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
(Chị T có mặt tại phiên tòa).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Dương!Thùy!Liên-Văn phòng luật sư Bùi Điệp & Cộng sự - Thuộc đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
* Bị đơn:!Anh Trần Thái Th, sinh năm 1992;
Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
(Anh Th vắng mặt phiên tòa)
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
* Tại đơn khởi kiện ngày 25-02-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Thị Phượng T trình bày:
Vào năm 2013 chị và anh Trần Thái Th cùng nhau đi đến hôn nhân, trên cở sở hoàn toàn tự nguyện, hai bên có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20-4-2017.
Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó đến năm 2017 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, anh Th thường xuyên uống rượu, mê chơi cờ bạc, không quan tâm chăm sóc cho gia đình, vợ chồng thường hay xảy ra cự cải làm ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa. Mặc dù chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành mà mâu thuẫn vợ chồng ngày trầm trọng hơn, chị và anh Th đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có chung với nhau 01 người con tên Trần Thị Yến N, sinh ngày 15-01-2015, hiện con đang sống với chị.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có tạo lập được tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Dương Thị Phượng T yêu cầu:
Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Trần Thái Th.
Về con chung: Yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng con chung Trần Thị Yến N, sinh ngày 15-01-2015và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Trần Thái Th đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Th đều không có mặt.
Theo kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương: Anh Trần Thái Th hiện nay vẫn còn sinh sống và đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Trong quá sinh sống ở địa phương anh Th thường xuyên cờ bạc mặc dù địa phương đã nhắc nhở nhiều lần nhưng anh Th không chấp hành.
Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Th. Anh Th vắng mặt không lý do.
- Ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn-Luật sư Dương Thùy Liên trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của nguyên đơn đồng thời đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Phương T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Đối với nguyên đơn là chị T: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn là anh Th: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng đều không có mặt; tại phiên tòa, anh Th tiếp tục vắng mặt không có lý do chính đáng. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị T.
NHẬN!ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị T khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn anh Trần Thái Th có hộ khẩu thường trú ấp H, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã triệu tập hợp lệ anh Th đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh Th vẫn tiếp tục vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Th là phù hợp theo quy định pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Chị T và anh Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn năm 2017 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị T nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp, anh Th sống thiếu trách nhiệm với vợ con và gia đình. Thực tế chị T đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ năm 2018 cho đến nay, vợ chồng sống trong tình trạng ly thân, không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, anh Th không có mặt theo thông báo để Tòa án tiến hành hòa giải, thể hiện anh không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng và tại phiên tòa hôm nay mặc dù anh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh Th vẫn vắng mặt không lý do. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T, anh Th đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Th để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh Th.
[3] Về quan hệ con chung: Chị T xác nhận trong thời gian chung sống anh chị có 01 người con chung tên Trần Thị Yến Nhi, sinh ngày 15-01-2005. Hiện nay cháu Nhi đang sinh sống cùng với mẹ. HĐXX nhận định căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh thực tế của đương sự và yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nhi của chị T nên cần tiếp tục giao cháu Nhi cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống mình là hoàn toàn phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, HĐXX đã giải thích cho chị T về quyền yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi cháu Nhi cho đến khi đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật nhưng chị T xác định không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con và việc chị T không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX không xem xét.!
[5] Về tài sản chung: Chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[6] Về nợ chung: Chị T cam kết không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[7] Xét yêu cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận như đã phân tích và nhận định trên.
[8] Xét lời trình bày của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Dương Thị Phượng T được ly hôn với anh Trần Thái Th.
2. Về con chung: Công nhận cháu Trần Thị Yến Nhi, sinh ngày 15-01-2005 là con chung của chị Dương Thị Phượng T và anh Trần Thái Th. Giao cháu Nhi cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng chị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0005007 ngày 02 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang; chị Loan không phải nộp Th.
1.“ Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
2.6. Chị T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:
| - TAND tØnh Kiªn Giang;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN-CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA - ViÖn KiÓm s¸t huyÖn Ch©u Thµnh; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - C¸c ®ương sù; - Lưu hå s¬. " | TM.!Héi §ång XÐt Xö S¬ ThÈm Danh!Pì!Sách |