vanban.org

Bản án 44/2019/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Như Ng buộc bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm Nh phải có trách nhiệm trả cho bà Trương Thị Như Ng số tiền là 97.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp HĐ vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Như Ng buộc bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm Nh phải có trách nhiệm trả cho bà Trương Thị Như Ng số tiền là 97.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/DS-ST
Ngày: 29-11-2019
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Đức;

2. Bà Võ Thị Trúc Mai.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 147/2019/TLST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2019 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Như Ng; địa chỉ: Số nhà 18/5 H BT, Khu phố H, Phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Hoàng M; địa chỉ: Khu phố M, Phường 5, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị (Giấy ủy quyền ngày 09/9/2019), có mặt.

Bị đơn: Bà Đoàn Thị Cẩm Nh; địa chỉ: Khu phố H, Phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 20/8/2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/10/2018, bà Đoàn Thị Cẩm Nh vay bà Trương Thị Như Ng số tiền 66.000.000 đồng, thời hạn vay là 10 tháng kể từ ngày vay, lãi suất theo thỏa thuận dựa trên quy định pháp luật tại thời điểm cho vay.

Ngày 14/01/2019, bà Đoàn Thị Cẩm Nh vay thêm bà Trương Thị Như Ng số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 14/01/2019 đến ngày 14/4/2019, lãi suất theo thỏa thuận dựa trên quy định pháp luật tại thời điểm cho vay.

Đến hạn trả nợ, bà Nh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận, nhiều lần bà Ng yêu cầu trả số tiền còn nợ nhưng bà Nh không chịu trả.

Nay, bà Trương Thị Như Ng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Đoàn Thị Cẩm Nh phải trả số tiền 97.743.000 đồng, trong đó:

+ Tiền gốc: 96.000.000 đồng;

+ Tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay 30.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng), tính từ ngày 15/4/2019 tạm tính đến ngày 15/11/2019 là 07 tháng, với số tiền: 1.743.000 đồng.

Bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm Nh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hợp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng nhưng không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Đoàn Thị Cẩm Nh đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nh.

Về nội dung: Căn cứ Hợp đồng cho cá nhân mượn tiền được xác lập ngày 14/10/2018 và ngày 14/01/2019 giữa bà Trương Thị Như Ng với bà Đoàn Thị Cẩm Nh có cơ sở khẳng định ngày 14/10/2018, bà Đoàn Thị Cẩm Nh vay của bà Trương Thị Như Ng số tiền 66.000.000 đồng, thời hạn vay là mười tháng, ngày đến hạn trả là 14/8/2019. Ngày 14/01/2019, bà Đoàn Thị Cẩm Nh vay thêm bà Trương Thị Như Ng số tiền 30.000.000 đồng, ngày đến hạn trả là 14/4/2019. Tổng cộng hai khoản vay là 96.000.000 đồng. Theo thời hạn cam kết được xác lập tại hai Hợp đồng trên thì bà Nh đã vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay ngày 14/10/2018 là từ ngày 15/8/2019; đối với khoản vay ngày 14/01/2019 là từ ngày 15/4/2019. Khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả tiền khi đến hạn...”. Vì vậy căn cứ Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nh có trách nhiệm trả cho bà Ngọc số tiền của hai khoản vay là 96.000.000 đồng.

Về tiền lãi: Giấy vay tiền ngày 03/11/2019 có thỏa thuận về lãi suất, theo quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự: Lãi suất do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Vì vậy, bà Ng yêu cầu tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay 30.000.000 đồng, với mức lãi suất 0,83%/tháng, tính từ ngày 15/4/2019 tạm tính đến ngày 15/11/2019 là 07 tháng, với số tiền: 1.743.000 đồng là có cơ sở nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Đoàn Thị Cẩm Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng Điều 357; Điều 463; Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Như Ng buộc bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm Nh phải có trách nhiệm trả cho bà Trương Thị Như Ng số tiền là 97.743.000 đồng (Chín mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi ba ngàn đồng), trong đó tiền gốc là 96.000.000 đồng, tiền lãi là 1.743.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí:

- Bà Đoàn Thị Cẩm Nh phải chịu 4.887.150 đồng (Bốn triệu tám trăm tám mươi bảy ngàn một trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho bà Trương Thị Như Ng số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 2.424.900 đồng (Hai triệu bốn trăm hai mươi bốn ngàn chín trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000188 ngày 23/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ