vanban.org

Bản án 44/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 18/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bui Văn L " Đáng bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự và điểm a
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LAI CHÂU
————
Bản án số: 44 /2018/HSST
Ngày: 18/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Tống Văn Đông

2. Ông: Nguyễn Khánh Yên:

Thư ký phiên toà: bà Lâm Thị Tuyết, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên toà: ông Đinh Văn Đức, kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2018/HSST, ngày 17 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Văn L – Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1985; sinh tại: T, tỉnh T. Nơi thường trú: Khu phố 10 thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 7/12 Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Bùi Bá T - Sinh năm: 1956; Con bà: Hồ Thị T– sinh năm: 1957; Bị cáo có vợ: Lê Thị H - Sinh năm: 1988, bị cáo có 01 con. Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2018 đến ngày 19/5/2018, sau đó bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/5/2018 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1 - Anh: Trần Văn K - Sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn 41 thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt.

2 - Anh: Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1987; Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đầu tháng 3/2018, Bùi Văn L bắt đầu ghi số lô, số đề trái quy định của Nhà nước, tại nhà của Linh tại khu phố 10, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu, hằng ngày, khi có người đến ghi số lô, số đề, L ghi và trả thưởng. Hình thức cá cược như sau: Căn cứ vào kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hằng ngày, L quy định đối với người chơi lô, người chơi ghi hai số bất kỳ trùng với hai số cuối của 27 giải thì người chơi trúng, với tỷ lệ cá cược 01 điểm lô = 23.000đồng, nếu người chơi trúng thì sẽ được thưởng 80.000đồng ( nếu người chơi ghi hai số trùng với nhiều giải thì sẽ nhân lên người chơi sẽ được); Đối với số đề người chơi ghi hai số bất kỳ trùng với hai số cuối của giải đặc biệt, với tỷ lệ cá cược 1.000đồng người chơi trúng thì được 70.000đồng; Với số lô xiên, L cá cược với người chơi ít nhất là 10.000đồng: cụ thể lô xiên 2, người chơi ghi hai cặp số bất kỳ trùng với hai cặp số cuối trong 27 giải thì người chơi trúng, với tỷ lệ cá cược, người chơi bỏ ra 10.000đồng, nếu trúng sẽ được thưởng 100.000đồng; Tương tự với lô xiên 3, người chơi ghi ba cặp số bất kỳ, trùng với ba cặp số cuối trong 27 giải thì người chơi trúng, tỷ lệ cá cược là người chơi bỏ ra 10.000đồng nếu trúng sẽ được thưởng 400.000đồng

Đến khoảng 17 giờ, ngày 13/5/2018, khi L đang ở nhà thì có Trần Văn K và Nguyễn Văn H đến nhà L để ghi lô đề, L đã ghi cho Hòa số lô 77 = 100điểm, ghi xong H trả cho L 2.300.000đồng ( hai triệu ba trăm nghìn đồng), L nhận tiền dùng một mảnh giấy màu vàng ghi cáp lô cho H. Ghi xong cho H, L tiếp tục ghi cho K số lô: 88 = 100điểm, xiên 2: 88,89 = 400.000đồng, xiên 3: 88,89,94 = 300.000đồng, tổng số tiền K trả cho L là 3.000.000đồng, L dùng mảnh giấy màu vàng ghi cáp lô cho K, K đưa cho L 2.720.000đồng còn lại 280.000đồng chưa kịp đưa cho L thì bị tổ công tác Công an tỉnh Lai Châu bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01(một) mảnh giấy màu vàng có ghi 13/5/2018; Lô 77 = 100đ, trên giấy có chữ ký của Bùi Văn L, Nguyễn Văn H; 01(một) mảnh giấy màu vàng có ghi 13/5/2018; Lô 88=100đ; xiên 2:88,89=400N, xiên 3: 88,89,94 = 300N, trên giấy có chữ ký của Bùi Văn L và Trần Văn K; Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam là 5.020.000đông (năm triệu không trăm hai mươi nghìn) và 280.000đồng ( hai trăm tám mươi nghìn đồng) K giao nộp; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu NOKIA, Model :1280. Số IMEIL: 356232/04/927737/8 (màn hình vỡ, máy đã qua sử dụng). Trong khi tổ công tác đang làm việc thì có một người tên Nguyễn Huy T, trú tại, khu phố 10 thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu gửi tin nhắn đến số điện thoại của L với nội dung: Lô 22,39,93 mỗi số 20 điểm, 35 = 30, tổng cộng 90điểm.

Quá trình điều tra đã xác định số tiền của những người tham gia cá cược đánh bạc bằng hình thức lô, đã được L chấp nhận ngày 13/5/2018 là 5.300. 000đồng (năm triệu ba trăm nghìn đồng).

Qua giám định số tiền thu giữ, tại bản kết luận giám định số: 233/2018/GĐ - KTHS, ngày 02/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lai Châu kết luận: Các mẫu tiền gửi giám định gồm: 5.020.000đồng thu giữ của Bùi Văn L và 280.000đồng thu giữ của Trần Văn K là tiền thật.

Tại Cáo trạng số: 29/CT - VKS – MT, ngày 17 tháng 08 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội " Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội " Đánh bạc”.

Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Văn L từ 20.000.000đồng đến 30.000.000đồng.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 5.020.000 đồng thu giữ của Bùi Văn L và 280.000đồng thu giữ của Trần Văn K đây là tiền do phạm tội mà có. Trả lại cho bị cáo Bùi Văn L 01 chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu NOKIA, Model:1280. Số IMEIL: 356232/04/927737/8 (màn hình vỡ, máy đã qua sử dụng) vì không liên quan đến vụ án. Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh giấy màu vàng gồm: 01(một) mảnh giấy màu vàng có ghi 13/5/2018; Lô 77 = 100đ, trên giấy có chữ ký của Bùi Văn L, Nguyễn Văn H; 01(một) mảnh giấy màu vàng có ghi 13/5/2018; Lô 88=100đ; xiên 2:88,89=400N, xiên 3: 88,89,94 = 300N, trên giấy có chữ ký của Bùi Văn L và Trần Văn K.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và các lời khai tại cơ quan Điều tra. Bị cáo nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận; không có kiến nghị hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy, vào khoảng hơn 17 giờ, ngày 13/5/2018, Công an tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ tại khu phố 10, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, đã phát hiện và bắt quả tang Bùi Văn L đang có hành vi "Đánh bạc" trái phép dưới hình thức ghi lô, đề với anh Nguyễn Văn H và anh Trần Văn K, tang vật thu được là 02 ( hai) cáp lô, đề được ghi trong 02 mảnh giấy màu vàng có ghi các số lô, số đề có chữ ký của Bùi Văn L, với tổng số tiền là 5.300.000đồng (năm tiệu ba trăm nghìn đồng).

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử khẳng định hành vi ghi số lô, số đề trái phép của Bùi Văn L là vi phạm pháp luật, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội" Đánh bạc " theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số: 29/CT - VKS – MT, ngày 17 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố đối với bị cáo Bùi Văn L về tội "Đánh bạc' theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về lỗi, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng, bị cáo Bùi Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS, bị cáo nhận thức rõ việc ghi số lô, số đề nhưng không được phép của cơ quản lý Nhà nước là vi phạm pháp luật, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng sấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, Hội đồng xét xử cần phải có mức hình phạt tương sứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng để phòng ngừa chung.

[ 4 ] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân, bị cáo Bùi Văn L có nơi cư trú rõ ràng; tiền án, tiền sự: không, từ trước đến khi bị bắt bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.

Trong vụ án này còn có Nguyễn Văn H và Trần Văn K là người tham gia đánh bạc với L, nhưng căn cứ vào số tiền tham gia cá cược của H và K chưa đủ truy cứu trách nhiệm hình sự, do vây, cơ quan Điều tra đã xử lý hành chính đối với Nguyễn Văn H và Trần Văn K là đúng quy định pháp luật. Đối với Nguyễn Huy T là người nhắn tin đến đánh bạc với Bùi Văn L, nhưng L chưa đồng ý vì điện thoại của L đang tạm giữ, do vậy Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm với Nguyễn Huy T là phù hợp với quy định pháp luật.

[ 6 ] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA Model:1280. Số IMEIL356232/04/927737/8, màn hình bị vỡ (đã qua sử dụng) thu giữ của Bùi Văn L, không liên quan đến hành vi phạm cần phải trả lại cho bị cáo Bùi Văn L. Đối với số tiền 5.020.000đồng ( năm triệu không trăm hai mươi nghìn ) thu giữ của Bùi Văn L đây là tiền do phạm tội mà có và số tiền 280.000đồng ( hai trăm tám mươi nghìn đồng) thu giữ của Trần Văn K, đây là tiền dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 02 (hai) mảnh giấy màu vàng gồm: 01(một) mảnh giấy màu vàng có ghi 13/5/2018; Lô 77 = 100đ, trên giấy có chữ ký của Bùi Văn L, Nguyễn Văn H; 01(một) mảnh giấy màu vàng có ghi 13/5/2018; Lô 88=100đ; xiên 2 88,89=400N, xiên 3: 88,89,94 = 300N, trên giấy có chữ ký của Bùi Văn L và Trần Văn K, đây là phương tiện phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy.

[ 7 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Buộc bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50; điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội " Đánh bạc". Xử phạt tiền đối với bị cáo Bùi Văn Linh với số tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 5.300.000đồng (năm triệu ba trăm nghìn) bao gồm 5.020.000đồng thu giữ của Bùi Văn L và số tiền 280.000đồng ( hai trăm tám mươi nghìn đồng) thu giữ của Trần Văn K.

- Trả lại cho Bùi Văn L 01chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu NOKIA, Model:1280. Số IMEIL: 356232/04/927737/8 (màn hình vỡ, máy đã qua sử dụng).

- Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh giấy màu vàng (cáp đề) gồm: 01(một) mảnh giấy màu vàng có ghi 13/5/2018; Lô 77 = 100đ, trên giấy có chữ ký của Bùi Văn Linh, Nguyễn Văn H; 01(một) mảnh giấy màu vàng có ghi 13/5/2018; Lô 88=100đ; xiên 2:88,89=400N, xiên 3: 88,89,94 = 300N, trên giấy có chữ ký của Bùi Văn L và Trần Văn K

3. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ