vanban.org

Bản án 44/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 15/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đồng Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
tØnh h¶i d ¬ng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2018/HSST
Ngày: 15/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ N NH N N HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI ƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quy;

Ông Ngô Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Loan, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn thị Thu, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2018, tại Nhà văn hóa thôn An Thái, thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2018/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐXXST-HS ngày 02/8/2018, đối với bị cáo Đồng Văn H, sinh năm 1984 tại huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và trú quán: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Đồng Văn Q và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị H; bị cáo có ba con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/6/2018, chuyển tạm giam từ ngày 25/6/2018 tại trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Vũ Văn L, sinh năm 1964;

2. Anh Mai Văn T, sinh năm 1987.

Đều có địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương.

(Đều vắng mặt).

NỘI UNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 23/6/2018, Đồng Văn H một mình đi xe ôm từ thị trấn P đến khu vực đường tàu thuộc huyện A, thành phố Hải Phòng để mua ma túy đá về sử dụng (H không biết người chở xe ôm là ai). Khi đến địa phận này, H xuống xe và bảo người đi xe ôm đợi còn H đi bộ vào khu vực đường tàu gặp một người đàn ông (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua ma túy đá thì người này đồng ý. H đưa cho người này 500.000đồng thì người đàn ông đưa cho H 01 túi nilon trong suốt kích thước 02 cm x 02 cm, bên trong chứa các chạt tinh thể màu trắng. Sau đó H tiếp tục hỏi mua heroin thì người này đồng ý, H đưa cho người đàn ông này 100.000đồng, người đàn ông đưa cho H một gói giấy nhỏ kích thước 01cm x 01cm bên trong chứa chất bột màu trắng. H biết rõ đây là hai gói ma túy đá và heroin mà H mua được, H cất cả vào một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long rồi nhét vào túi quần bên phải phía trước H đang mặc. Sau đó H đi ra chỗ người đi xe ôm bảo người đi xe ôm chở H về xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Khi đi đến Quốc lộ 17B thuộc địa phận Đội 13, thôn B, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương thì H xuống xe ôm để đi vệ sinh. Hải đi vệ sinh xong, đi bộ ra mặt đường Quốc lộ 17B, lúc này là 11 giờ 40 phút cùng ngày 23/6/2018 thì bị lực lượng Công an huyện Kim Thành phối hợp cùng Công an xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương phát hiện. Khi bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra thì H tự nguyên dùng tay lấy ở trong túi quần bò bên phải phía trước H đang mặc một vỏ bao thuốc lá Thăng Long, H lấy ở trong vỏ bao thuốc lá ra một túi nilon trong suốt, kích thước 02 cm x 02 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, H khai là ma túy đá và một gói giấy nhỏ kích thước 01cm x 01cm bên trong chứa chất bột (Dạng cục), H khai là ma túy Heroin. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong hai gói ma túy.

Kết luận giám định số 435/KLGĐ-PC54 ngày 25/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

Mẫu vật gửi giám định ghi thu của Đồng Văn H, bên trong túi nilon là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,254gam; mẫu vật gửi giám định trong gói giấy là ma túy, loại heroin có khối lượng 0,07gam.

Heroin là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.

Quá trình điều tra, Đồng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 37/VKSKT ngày 26/7/2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố Đồng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như quá trình điều tra và xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đồng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đồng Văn H từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 23/6/2018.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định chứa trong 01(Một) phong bì niêm phong số 435/KLGĐ-PC54 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương; 01 (Một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, bằng giấy màu vàng có mã vạch sản phẩm in trên vỏ bao là 8935047600239.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo và các chứng cứ xác định tội:

Hồi 11 giờ 40 phút ngày 23/6/2018, tại khu vực Quốc lộ 17B, thuộc địa phận thôn B, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương, Công an huyện Kim Thành phối hợp cùng Công an xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương bắt quả tang Đồng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu trong túi quần bên phải phía trước H đang mặc một vỏ bao thuốc lá Thăng Long một túi nilon trong suốt kích thước 02 cm x 02 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, H khai là ma túy đá và một gói giấy nhỏ kích thước 01cm x 01cm bên trong chứa chất bột (Dạng cục), H khai là ma túy Heroin. H khai là ma túy do H mua về mục đích sử dụng cho bản thân.

[3] Về định khung: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, căn cứ kết luận giám định số 435/KLGĐ-PC 54 ngày 25/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Mẫu vật gửi giám định bên trong túi nilon là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,254gam; mẫu vật gửi giám định trong gói giấy là ma túy, loại heroin có khối lượng 0,07gam.

Heroin là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.

Mục đích bị cáo H mua hai chất ma túy trên để sử dụng cho bản thân. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành truy tố và xét xử bị cáo Đồng Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm, bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ở tất cả các khâu của quá trình quản lý các chất ma túy và trật tự an toàn xã hội mà còn gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, là một trong những nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác làm ảnh hưởng không tốt đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc phù hợp với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; bố đẻ bị cáo là ông Đồng Văn Q được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung quỹ Nhà nước, xét hoàn cảnh bị cáo là người lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Xác định số ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định được đựng trong 01 (Một) phong bì niêm phong số 435/KLGĐ-PC 54 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương, là vật chứng của vụ án, vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long không có giá trị sử dụng, do vậy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Về nguồn gốc số ma túy trên, bị cáo khai mua của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, do vậy không có căn cứ để xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo H bị tuyên bố phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Đồng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

3/ Về hình phạt:

- Hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Đồng Văn H 15(Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 23/6/2018.

- Hình phạt bổ sung:

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

4/ Xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định chứa trong 01(Một) phong bì niêm phong số 435/KLGĐ-PC54 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương; 01 (Một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, bằng giấy màu vàng có mã vạch sản phẩm in trên vỏ bao là 8935047600239.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 00 phút ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương).

5/ Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đồng Văn H phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ