vanban.org

Bản án 44/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 04/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tiết Thanh D phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Tiết Thanh D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Tiết Thanh D - phạm tội giao cấu với trẻ em (điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tiết Thanh D phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 115 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2018/HS-ST
Ngày: 04-12-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hà

Ông Lê Minh Quan

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Mai -Thư ký TAND huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Lực - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Tiết Thanh D, sinh ngày: 07-10-1997 tại Bà Rịa-Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: 5Ô2/26 khu phố T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Chổ ở hiện nay: 5Ô2/26 khu phố T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tiết Thanh D (đã chết) và bà Đặng Thị Mỹ H; vợ và con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 15-6-2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng; bị bắt tạm giam ngày 19-9-2018, “có mặt”.

- Bị hại: Chị Dương Thị Hồng V, sinh ngày: 29-11-2003, “vắng mặt”

Địa chỉ: 3Ô2/5 khu phố T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1964, “có mặt”

Địa chỉ: 3Ô2/5 khu phố T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Hồ Thị H, sinh năm: 1993 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, “có mặt”

- Người làm chứng: Bà Đặng Thị Mỹ H, sinh năm: 1979, “có mặt”

Địa chỉ: 5Ô2/26 khu phố T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03-7-2018, bà Nguyễn Thị N đến Công an tố cáo Tiết Thanh D, sinh năm 1997 có hành vi dụ dỗ con gái bà tên Dương Thị Hồng V, sinh ngày 29-11-2003 và nhiều lần quan hệ tình dục. Qua điều tra, Tiết Thanh D khai nhận đã 4 lần giao cấu với V, cụ thể:

Qua mạng xã hội Facebook, Tiết Thanh D và Dương Thị Hồng V quen biết nhau, sau 02 lần gặp mặt D biết V chưa đủ 16 tuổi. Vào khoảng tháng 10/2017, D và V hẹn gặp nhau, sau khi đi uống nước D chở V về nhà mình tại khu phố T, thị trấn H, huyện Đ, tại đây được sự đồng ý của V, D đã có hành vi quan hệ tình dục với V tại phòng ngủ của mình. Những lần giao cấu sau đó cũng tại phòng ngủ của D và V đều đồng ý, lần cuối cùng khoảng tháng 6/2018, những lần giao cấu với V thì cha mẹ của D đều vắng nhà. (BL 31-44).

Dương Thị Hồng V khai trong khoảng thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 6/2018, D và V đã giao cấu với nhau khoảng 08 lần đều tại phòng ngủ của D, lần đầu vào khoảng tháng 10/2017 D có đề nghị V cho quan hệ tình dục nhưng V không đồng ý, sau đó D nằm đè lên người V dùng tay bịt miệng và giữ tay V không cho la, sau đó D bỏ tay ra V không phản ứng gì nên D đã thực hiện hành vi giao cấu với V. Những lần sau V đều đồng ý giao cấu với D. (BL 46-57).

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 186/TD ngày 09-7-2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận: Không có dấu sây sát da hay bầm tím vùng bẹn dùi hai bên. Màng trinh giãn rộng. Rách màng trinh cũ ở vị trí 9 giờ. Tìm không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo. (BL 17-21).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Về phần dân sự: Bà Nguyễn Thị N là mẹ của V không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ truy tố Tiết Thanh D về tội “Giao cấu với trẻ em” theo điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố.

Về trách nhiệm dân sự: Bà N không yêu cầu bị cáo bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Qua tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát huyện Đất Đỏ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Tiết Thanh D phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Tiết Thanh D mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Thống nhất về tội danh như cáo trạng đã truy tố cũng như lời luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa. Bị cáo đã lợi dụng sự non nớt, thiếu hiểu biết của bị hại để nhiều lần thực hiện xâm hại tình dục đối với bị hại, hành vi của bị cáo đã ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về mặt tâm sinh lý và thể chất của bị hại. Do đó, đề nghị xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm minh để giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về phần dân sự, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.

Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, bị cáo đã thật sự ăn năn hối lỗi, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận xuất phát từ quan hệ tình cảm và do sự tự nguyện giữa bị cáo và bị hại nên trong khoảng thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 6/2018 tại nhà của bị cáo ở khu phố T, thị trấn H, huyện Đ, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với bị hại Dương Thị Hồng V, sinh ngày 29-11-2003.

Lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định pháp y, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với trẻ em” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội nhiều lần”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đối với lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra, bị hại cho rằng bị cáo và bị hại đã quan hệ tình dục với nhau khoảng 08 lần và lần đầu không phải do bị hại tự nguyện. Xét thấy, việc quan hệ tình dục giữa bị cáo và bị hại chỉ có hai người biết, không có ai chứng kiến, do đó không có chứng cứ cho rằng bị cáo có hành vi hiếp dâm đối với bị hại. Vì vậy, kết luận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước 00 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 nên theo quy định tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 sẽ áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử đối với bị cáo.

Xét thấy, hành vi do bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại thân thể, danh dự, nhân phẩm của trẻ em được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy, hành vi quan hệ tình dục với lứa tuổi trên cần xử lý thật nghiêm nhằm bảo vệ sức khỏe, tinh thần, nhân cách, danh dự của trẻ em hiện tại và tương lai.

Bản thân bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại, vì dục vọng cá nhân thấp hèn mà đã dấn thân vào con đường phạm tội. Để bị cáo có thời gian suy ngẫm về hành động của mình, tu sửa và rèn luyện bản thân, xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, ngày 15-6-2018 bị Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng.

Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là phù hợp nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị hại Dương Thị Hồng V và người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị N không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xét đến.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Tiết Thanh D phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.

2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Tiết Thanh D 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 19-9-2018).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Tiết Thanh D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ