- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đòi lại tài sản"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2018/DSST Ngày: 29/05/2018 Vụ kiện: “T/c đòi lại tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Bích Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thiện
2. Ông Huỳnh Việt Hưng.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Sang.
Trong ngày 29/5/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 170/2017/ TLST – DS ngày 22 tháng 5 năm 2017 về việc tranh chấp “ Đòi lại tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 376/2018/QĐST- DS ngày 08/5/2018, giữa:
Nguyên đơn: Công ty CP Bảo Hiểm Viễn Đ
Địa chỉ: 80 Võ Văn Tần, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn – Bà Đặng Thị Phương.
Bị Đơn: Ông Trương Hiểu E.
Địa chỉ: 233/59 M1 Nguyễn Văn Cừ, phường C, quận D, thành phố Cần Thơ.
NHẬN THẤY
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án nguyên đơn Công ty CP Bảo Hiểm Viễn Đ trình bày: Theo nội dung Hợp đồng khai thác viên ngày 01/4/2013, ông Trương Hiểu E được Công ty CP Bảo Hiểm Viễn Đ cấp ấn chỉ giấy chứng nhận bảo hiểm để kinh doanh và thu phí của khách hàng nộp về Công ty theo quy định. Tuy nhiên trong quá trình công tác tại chi nhánh Cần Thơ, ông Hiểu E đã lợi dụng tín nhiệm cấp phát ấn chỉ và thu phí của nhiều khách hàng nhưng không nộp về Công ty theo quy định với tồng số tiền 50.587.200 đồng. Ngoài ra, ông Hiểu E đang chiếm giữ của Bảo hiểm Viễn Đ 680 liên ấn chỉ bảo hiểm (trong đó ấn chỉ xe gắn máy là 670 liên; ấn chỉ tai nạn hộ sử dụng điện là 10 liên) tương đương số tiền là 21.080.000 đồng. Đã đóng dấu VASS Chi nhánh Cần Thơ, ông Hiểu E chỉ cần điền thông tin của khách hàng vào ấn chỉ, thu phí bảo hiểm thì ấn chỉ đó sẽ có hiệu lực và phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của VASS. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì hậu quả VASS phải chịu trách nhiệm bồi thường cho khách hàng có thể lớn gấp hàng chục lần tiền phí bảo hiểm, mặc dù VASS không hề thu được bất kỳ khoản phí nào. Nhằm đảm bảo quyền lợi cho khách hàng khi xảy ra tai nạn, VASS đã thực hiện mọi biện pháp yêu cầu ông Hiểu E hoàn nộp cho Công ty toàn bộ ấn chỉ và phí bảo hiểm đang chiếm giữ của VASS. Tuy nhiên, ông Hiểu E không hợp tác và đã tự ý bỏ việc. Nay Công ty yêu cầu giải quyết buộc ông Trương Hiểu E trả cho Công ty:
1. Tiền nợ phí bảo hiểm 50.587.200 đồng
2. 680 liên ấn chỉ bảo hiểm (trong đó ấn chỉ xe gắn máy là 670 liên; ấn chỉ tai nạn hộ sử dụng điện là 10 liên) hoặc tương đương số tiền 21.080.000 đồng.
Bị đơn ông Trương Hiểu E trình bày: Trước đây, ông Hiểu E có làm cộng tác viên Công ty Bảo hiểm Viễn Đ chuyên bán bảo hiểm xe máy và có ký Hợp đồng với giám đốc Nguyễn Xuân Quan. Lúc đầu mua bán rất thuận lợi nhưng do trong công việc phát sinh nên không hợp tác nữa, ông sang Công ty khác làm. Giám đốc Quan yêu cầu ông Hiểu E quyết toán nhưng trong thời điểm mở rộng địa bàn nên ông có giao ấn chỉ cho anh Trần Thanh Hòa ở Bạc Liêu. Khi nghỉ thì anh Hòa không trả lại ấn chỉ và không nộp tiền cho ông Hiểu E nên ông không quyết toán được. Giám đốc Quan tố cáo đến Công an Thành phố cần Thơ, gây áp lực với ông nên ông Hiểu E đi vay tiền nộp cho công an gần 100.000.000 đồng, ông không nhớ rõ vì lo sợ, công an dọa ông không nộp tiền thì đi tù.
Phần tiền ông Hiểu E đã nộp cho công an trả lại cho Công ty Viễn Đ, ông Hiểu E sẽ xin trích lục chứng cứ bổ sung cho Tòa án.
Vụ kiện được đưa ra hòa giải nhưng không được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc đòi ông Hiểu E tiền nợ phí bảo hiểm 50.587.200 đồng và 21.080.000 đồng giá trị của 680 liên ấn chỉ bảo hiểm, tiền lãi phát sinh thời điểm từ ngày 11/10/2016 cho đến khi xét xử theo quy định.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, qua tranh luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn cho rằng ông Trương Hiểu E được Công ty CP Bảo Hiểm Viễn Đ cấp ấn chỉ giấy chứng nhận bảo hiểm để kinh doanh và thu phí của khách hàng nộp về Công ty theo quy định. Trong quá trình công tác, ông Hiểu E đã thu phí của nhiều khách hàng nhưng không nộp về Công ty theo quy định với tổng số tiền 50.587.200 đồng. Ngoài ra, ông Hiểu E đang giữ của Bảo hiểm Viễn Đ 680 liên ấn chỉ bảo hiểm (trong đó ấn chỉ xe gắn máy là 670 liên; ấn chỉ tai nạn hộ sử dụng điện là 10 liên) tương đương số tiền là 21.080.000 đồng. Do vậy giữa hai bên phát sinh tranh chấp. Nên xác định đây là tranh chấp Đòi lại tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và thuộc sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự.
Về thủ tục: Tòa án triệu tập hợp lệ ông Hiểu E đến tham dự phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng ông Hiểu E vẫn vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối với ông Hiểu E.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Căn cứ vào Hợp đồng khai thác viên ngày 01/4/2013, Phiếu đề xuất nhận hóa đơn ấn chỉ, Biên bản làm việc ngày 25/9/2014, Biên bản làm việc ngày 03/6/2016, Phiếu thu ngày 03/6/2016, ngày 15/6/2016, lời trình bày của các đương sự trong bản tự khai xác định trong khi làm công tác viên trong Công ty bảo hiểm Viễn Đ, bị đơn có nhận liên ấn chỉ để giao dịch với khách hàng và còn nợ chưa thanh toán cho công ty số tiền là 105. 667.200 đồng.
Tại biên bản làm việc ngày 03/6/2016, ông Trương Hiểu E thừa nhận nợ 105.667.200 đồng và cam kết sẽ thanh toán cho công ty trước tháng 07/2016. Sau đó bị đơn đã thanh toán cho Công ty hai lần vào các ngày 03/6/2016, ngày 15/6/2016 được số tiền là 30.000.000 đồng. Ông Hiểu E cho rằng đã trả cho nguyên đơn 100.000.000 đồng nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh.
Quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án tiến hành tống đạt giấy triệu tập cho bị đơn đến làm việc bị đơn có đến viết tự khai nhưng khi được triệu tập đến dự phiên tòa thì vắng mặt. Từ đó chứng minh, bị đơn biết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng vẫn không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
Trước phiên tòa, đối chiếu lời khai của nguyên đơn với các tài liệu chứng cứ trên nhận thấy yêu cầu đòi bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 71.667.200 đồng là có cơ sở.
Từ các phân tích trên đủ căn cứ để buộc ông Hiểu E phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 71.667.200 đồng là phù hợp.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lãi tính từ ngày 11/6/2016 cho đến nay theo quy định của pháp luật. Nhận thấy, trong biên bản làm việc ngày 03/6/2016, nguyên đơn có xác định mốc thời gian đến hết ngày 10/6/2016, bị đơn không thanh toán tiền thì sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, yêu cầu tính lãi được tính là kể từ ngày nguyên đơn thông báo cho bị đơn biết trước thời gian đòi lại khoản tiền trên. Tại phiên tòa, nguyên đơn xuất trình biên bản làm việc ngày 03/6/2016 chứng minh được việc đã thông báo đòi nợ. Do vậy, Hội đồng xét xử tính ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ là ngày 11/6/2016 để tính lãi.
Mức lãi chậm trả được tính theo lãi suất do Ngân hàng Nhà nước là 9%/năm, bằng 1,125%/tháng, thời gian từ ngày 11/6/2016 đến ngày xét xử 29/5/2018 là 23 tháng 18 ngày. Tổng số tiền lãi phải trả là 19.027.642 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 90.694.842 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí. Bị đơn phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
Tuyên án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Trương Hiểu E phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty CP Bảo Hiểm Viễn Đ số tiền là 90.694.842 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 71.667.200 đồng và nợ lãi là 19.027.642 đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị đơn chậm thanh toán nợ thì phải chịu lãi suất trên số tiền và thời gian chậm thanh toán nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp 4.535.000 đồng.
Nguyên đơn được nhận lại 1.792.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 003743 ngày 24/4/2017.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích lục án hoặc trích lục án được niêm yết tại địa phương.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND Q. Ninh Kiều; - THA Q. Ninh Kiều; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Bích Hải |