vanban.org

Bản án 44/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 06/02/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/02/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn ứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Ch p nhận kháng cáo của bà Lê Thị C; Ch p nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Mỹ D2. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lê Long X- Lê Thị C"
  • Tòa quyết gì? Căn ứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2018/DS-PT
Ngày: 06 - 02 - 2018
V v tranh h p hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Son

Ông Nguyễn Duy Lâm

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện - Thu ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sơn, Kiểm sát viên.

Vào các ngày 31 tháng 01 và ngày 06 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 259/2017/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2017/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 262/2018 QĐPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2018, giữa á đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Long X, sinh năm 1977; địa chỉ ư trú: Tổ 7, p Tân Tây, xã TH, huyện TC, tỉnh T2.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 192/4B, khu phố Ninh Thọ, phường NS, thành phố T1, tỉnh T2 (theo bản ủy quyền ngày 12/5/2017); có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1964; có mặt.

Địa chỉ: Tổ 14, p Tân Tây, xã TH, huyện TC, tỉnh T2. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Chị Lê Thị D1, sinh năm 1977; địa chỉ ư trú: 9D, đường Trương Tùng Quân, Khu phố 5, Phường 3, thành phố T1, tỉnh T2 (theo văn bản ủy quyền ngày 18-12-2017); có mặt.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1 Anh Lê Đức T2, sinh năm 1979; vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ 14, p Tân Tây, xã TH, huyện TC, tỉnh T2.

3.2 Chị Nguyễn Thị Mỹ D2, sinh năm 1984; có mặt.

Địa chỉ: Tổ 14, p Tân Tây, xã TH, huyện TC, tỉnh T2.

4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị C; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Mỹ D2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 3 năm 2017 của nguyên đơn bà Lê Long X cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Văn T1 là đại diện theo ủy quyền của bà X trình bày:

Do là chị em nên bà X có cho bà C vay tiền nhiều lần cụ thể như sau: Ngày 15/7/2009 (Al) cho bà C vay 150.000.000 đồng; ngày 29/7/2009 (Al) cho bà C vay 250.000.000 đồng; ngày 12/9/2009 (Al) cho bà C vay 150.000.000 đồng; ngày 30/10/2009 (Al) cho bà C vay 50.000.000 đồng; ngày 19/11/2009(Al) cho bà C vay 80.000.000 đồng; ngày 18/12/2009 (Al) cho bà C vay 80.000.000 đồng; ngày 24/01/2010 (Al) cho bà C vay 100.000.000 đồng; ngày 14/02/2010 (Al) cho bà C vay 50.000.000 đồng; ngày 18/02/2010 (Al) cho bà C vay 90.000.000 đồng, tổng cộng 09 lần cho vay số tiền là 1.000.000.000 đồng, t t cả các lần ho vay đều không thỏa thuận thời hạn trả nợ, có thỏa thuận lãi su t là 6%/tháng, không thế ch p tài sản và ũng không làm gi y tờ. Sau đó, á bên ó chốt nợ do bà C viết gi y mượn tiền đưa ho bà X không ghi cụ thể ngày tháng. Từ ngày vay ho đến nay bà C ó đóng lãi ho bà X nhưng không nhớ là đóng bao nhiêu, bà C hưa trả số tiền nợ gốc nào. Mặc dù bà C vay của bà X 1.000.000.000 đồng nhưng nay bà X chỉ yêu cầu bà C trả 625.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Lý do có sự chênh lệch giữa số tiền bà C nợ với số tiền bà X yêu cầu là vì vụ án này đã được giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm, tại phiên tòa dân sự phúc thẩm ngày 23/4/2013, bà C thừa nhận có nợ bà X 625.000.000 đồng nên bà X yêu cầu bà C trả số tiền 625.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tại bản tự khai ngày 24 tháng 4 năm 2017 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị C trình bày:

Bà thừa nhận có vay tiền của bà Lê Long X nhiều lần trong các tháng 7,8,9 năm 2008 (Al) với tổng số tiền là 625.000.000 đồng, bà không nhớ chính xác từng lần vay là bao nhiêu, khi vay không thế ch p tài sản, không làm gi y tờ, không thỏa thuận thời hạn trả nợ và có thỏa thuận lãi su t là 4%/1.000.000 đồng/ngày, bà ó đóng lãi ho bà X đầy đủ từ ngày vay ho đến tháng 4/2009 thì bà có trả được cho bà X số tiền vay gố là 325.000.000 đồng và số tiền lãi bà không nhớ chính xác là bao nhiêu, khi trả bà X có ghi vào mặt 03 tờ lịch bao gồm 325.000.000 đồng tiền gốc, còn lại là tiền lãi. Đến tháng 5 2011, bà đã n trừ Quyền sử dụng đ t cho bà X đối với số tiền bà còn nợ là 300.000.000 đồng xong. Hiện tại, bà không còn nợ bà X số tiền nào nên không đồng ý theo yêu cầu của bà X.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 6 năm 2017 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Mỹ D2 trình bày:

Chị là con của bà Lê Thị C, năm 2008 do việ làm ăn ủa bà C bị th t bại nên bà C có vay tiền của bà X nhiều lần khoảng 600.000.000 đồng (chị không nhớ chính xác số tiền là bao nhiêu), sau đó bà X ó đến nhà bà C để đòi nợ nhiều lần nên vợ chồng chị mới biết. Giữa vợ chồng chị, bà C có thống nh t với bà X về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đ t để c n trừ số nợ cho bà C. Cụ thể vợ chồng chị sẽ chuyển nhượng Quyền sử dụng đ t cho bà X một phần đ t diện tí h đ t 480 m2 (ngang 12 m dài 40 m) đ t tọa lạc tại xã TH, huyện TC, tỉnh T2. Nguồn gố đ t là của vợ chồng bà Lê Thị Đảm và ông Nguyễn Văn Dũng ó nợ tiền nhiều người trong đó ó bà C, vợ chồng chị, ông Nguyễn Văn Nghiệp, bà Phan Thị Phượng, bà Đinh Thị Mỹ Hạnh, bà Trương Thị Luyến …nên vợ chồng ông Dũng, bà Đảm và các chủ nợ cùng thống nh t là vợ chồng ông Dũng, bà Đảm làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đ t cho vợ chồng chị, rồi vợ chồng chị sẽ làm thủ tục tách sổ sang tên cho các chủ nợ với diện tí h đ t tương ứng với số nợ của vợ chồng ông Dũng, bà Đảm nợ. Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t năm 2011 giữa vợ chồng chị và bà Lê Long X không thể hiện là chuyển nhượng đ t để c n trừ nợ cho bà C nhưng trong đơn xin xá nhận ngày 23/5/2011, có thể hiện nội dung này cụ thể là “Tôi tên: Nguyễn Thị Mỹ D2 – sinh năm 1984 có chuyển nhượng 480 m2 đất cho bà Lê Long X (ngang 12 m dài 40 m) tại xã TH để trừ vào số tiền bà C còn nợ bà X. Khi ra công chứng xong thì bà C không còn nợ tiền bà X khoản tiền nào nữa”. Cho nên theo chị việc bà Lê Long X khởi kiện bà Lê Thị C về số tiền vay 625.000.000 đồng là không đúng, vì vợ chồng chị đã huyển nhượng quyền sử dụng đ t cho bà X để c n trừ nợ cho bà C xong.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 27 tháng 6 năm 2017 anh Lê Đức T2 trình bày:

Anh là chồng của chị D2, anh thống nh t với lời trình bày của chị D2 và không có ý kiến bổ sung gì thêm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 49/2017/DS-ST ngày 25-9-2017 của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh T2 tuyên xử:

Căn ứ Điều 305; Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016, ủa Ủy ban thường vụ Quố hội về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Ch p nhận yêu ầu khởi kiện ủa bà Lê Long X đối với bà Lê Thị C về việ tranh h p hợp đồng vay tài sản.

Buộ bà Lê Thị C ó nghĩa vụ trả ho bà Lê Long X số tiền 625.000.000 (sáu trăm hai mươi lăm triệu) đồng. Ghi nhận bà X không yêu ầu tính lãi.

Tiếp tụ duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn p tạm thời số: 07 2017 QĐ-BPKCTT ngày 21 8 2017, ủa Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh T2.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của á đương sự.

Ngày 08-10-2017, bị đơn bà Lê Thị C ó đơn kháng áo yêu ầu C p phúc thẩm xét xử theo hướng không ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Long X, vì bà không còn nợ tiền bà X.

Ngày 08-10-2017, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, chị Nguyễn Thị Mỹ D2 ó đơn kháng cáo cho rằng chị không có hùn vốn làm ăn với bà Lê Long X, chị đã huyển quyền sử dụng đ t của chị cho bà X để c n trừ nợ cho mẹ chị là bà C. Hiện bà C không còn nợ bà X.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Lê Thị D1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Mỹ D2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Hai bên không cung c p thêm chứng cứ mới.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T2 phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Việc ch p hành pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận kháng cáo của bà Lê Thị C, chị Nguyễn Thị Mỹ D2, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ăn ứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Xét yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị C, chị Nguyễn Thị Mỹ D2 th y rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị C đều thừa nhận có vay của bà Lê Long X số tiền 625.000.000 đồng vào năm 2008 nhưng đã trả xong. Cụ thể, năm 2009, bà C trả cho bà X số tiền 325.000.000 đồng và tiền lãi. Đến năm 2011, chị D2 (con bà C) có giao 01 phần đ t diện tích 480 m2 (ngang 12 m x dài 40 m) cho bà X để c n trừ hết nợ cho bà C. Bà X không thừa nhận lời trình bày của bà C và chị D2.

Tại hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 175/2013/DS-ST ngày 24-6-2013 của Tòa án nhân dân huyện TC, bà Lê Long X khởi kiện yêu cầu bà C trả cho bà X số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), không yêu cầu tính lãi. Bà C không thừa nhận. Bà X yêu cầu đưa gi y nợ bà X cung c p đi giám định.

Ngày 23/8/2012, Tòa án nhân dân huyện TC trưng ầu giám định chữ viết của bà Lê Thị C tại gi y nợ bà X cung c p. Tại kết luận giám định số 1799/C54B ngày 27/9/2012 của phân viện khoa học hình sự Bộ công an tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận, gi y nợ bà X cung c p để giám định không phải chữ viết của bà Lê Thị C. Bà C ũng hỉ thừa nhận có nợ bà X số tiền 625.000.000 đồng và đã trả xong; trong đó trả bằng tiền 420.880.000 đồng do bà X viết gi y tính tiền trên 03 tờ lịch và con bà C chị D2 chuyển trả cho bà X diện tích 12m x 40m. Bà X không thừa nhận chữ viết trên 03 tờ lịch là của bà X.Tại kết luận giám định số 43/GT.2014 ngày 25-4-2014 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2 (Bút lục 376, 377) kết luận, chữ viết trong 03 tờ lịch mà bà C cung c p là của bà Lê Long X. Ngày 30/6/2014 bà X rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện TC đã đình hỉ giải quyết vụ án này.

Đến ngày 28-3-2017, bà Lê Long X ăn ứ vào lời thừa nhận của bà C tại hồ sơ trướ đó, đã khởi kiện lại vụ án và yêu cầu bà C trả lại số tiền 625.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi (Bút lục 01, 02). Xét th y, bà C xu t trình được 03 tờ lịch có nội dung đã trả cho bà X 420.880.000 đồng, trong đó ó 325.000.000 đồng tiền gốc, còn lại là tiền lãi của số tiền 625.000.000 đồng. Tại kết luận giám định số 43/GT.2014 ngày 25-4-2014 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2 (Bút lục 376, 377) kết luận, chữ viết trong 03 tờ lịch mà bà C cung c p là của bà Lê Long X. Do đó, việc bà X có nhận của bà C số tiền 420.880.000 đồng là có thật. Bà X ũng không hứng minh được số tiền 420.880.000 đồng là bà nhận của khoảng vay nào khác. Nên lời trình bày của bà C đã trả cho bà X số tiền nợ gố 325.000.000 đồng là ó ăn ứ.

Đối với số nợ gốc còn lại 300.000.000 đồng, bà C, chị D2 trình bày đã giao cho bà X một phần đ t có diện tích 480 m2 (ngang 12 m x dài 40 m) để c n trừ nợ. Xét th y, tại biên bản ghi lời khai ngày 20-6-2017 (BL 80, 81), bà Lê Thị Đảm khai đã huyển nhượng cho anh T2, chị D2 phần đ t có diện tích 11.750 m2 để c n trừ nợ, và anh T2, chị D2 có trách nhiệm c n trừ nợ cho các chủ nợ còn lại. Chị D2, anh T2 và những người chủ nợ của bà Đảm, ông Dũng là bà Trương Thị Luyến, ông Nguyễn Văn Nghiệp, bà Đinh Thị Mỹ Hạnh đều xác nhận việc này là có thật. Sau khi anh T2, chị D2 đã nhận chuyển nhượng đ t của bà Đảm, ông Dũng xong thì đã thực hiện việc chuyển nhượng lại cho các chủ nợ của bà Đảm, ông Dũng để c n trừ nợ. Trong cùng thời gian, anh T2, chị D2 có chuyển quyền sử dụng đ t cho ông Thắng, bà Liễu (Đạt), bà X để c n trừ nợ cho bà C. Tại biên bản ghi lời khai ngày 21-6-2017 (BL 84), bà Nguyễn Thị Liễu (Đạt) xác nhận là bà C có nợ của bà Liễu 260.000.000 đồng, chị D2, anh T2 có chuyển nhượng cho bà phần ngang 10m x dài 40m, giá 25.000.000 đồng/1m ngang đ t, còn nợ lại 10.000.000 đồng, bà Liễu cho bà C. Tại biên bản ghi lời khai ngày 21-6-2017 (BL 82), ông Lê Đức Thắng (là anh em ruột của bà X, bà C) xác nhận chị D2, anh T2 có chuyển nhượng đ t cho ông và cho bà bà X để c n trừ nợ cho bà C. Do đó, lời trình bày của chị D2 đã huyển nhượng cho bà X phần đ t ngang 12 m x dài 40 m, giá 25.000.000 đồng 1 m ngang là ó ăn ứ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà X, anh Phạm Văn T1 trình bày, do chị D2, anh T2 nhận chuyển nhượng đ t của ông Dũng, bà Đảm thiếu tiền, nên bà X có giao cho chị D2, anh T2 200.000.000 đồng, việc giao nhận tiền không có làm gi y tờ (Bút lục số 96). Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đảm, ông Dũng đều xác nhận không có nhận tiền chuyển nhượng đ t của anh T2, chị D2, mà bà chuyển nhượng đ t cho anh T2, chị D2 là để c n trừ nợ. Và chị D2 ũng không thừa nhận có nhận tiền của bà X để mua đ t của ông Dũng, bà Đảm.

Ngày 22 11 2017 người đại diện bà X anh Phạm Văn T1 cung c p cho c p phúc thẩm đơn khiếu nại khẩn c p ngày 06/12/2010 có nội dung là anh T2 chị D2 thừa nhận có hùn với bà X mua đ t của bà Lê Thị Đảm và ông Nguyễn Văn Dũng. Chị D2 không thừa nhận chữ ký và chữ ghi họ và tên Nguyễn Thị Mỹ D2 trong đơn khiếu nại là của chị D2 và anh T2. Đại diện của nguyên đơn anh T1 và chị D2, anh T2 không yêu cầu giám định chữ ký trong đơn khiếu nại. Xét th y: Đơn khiếu nại khẩn c p làm ngày 06/12/2010 nhưng ngày 01 6 212 bà Lê Long X ó đơn khởi kiện bà C nhưng bà X ũng không ung p đơn khiếu nại này cho Tòa. Hơn nữa tại biên bản hòa giải ngày 19/6/2012 (BL 362) bà X thừa nhận có nhận 12m x 40m đ t của bà C để c n trừ nợ. Do đó, không ó ơ sở ch p nhận lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn. Có ăn ứ ch p nhận việc chị D2, anh T2 chuyển quyền sử dụng đ t diện tích ngang 12 m x dài 40 m cho bà X để c n trừ số nợ 300.000.000 đồng của bà C. Mặt khác, tại biên bản l y lời khai ngày 13-11-2012, bà X xá định bà C không có nợ bà số tiền 625.000.000 đồng (BL 355).

Từ những nhận định trên, xét th y cần ch p nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị C, chị Nguyễn Thị Mỹ D2. Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Long X.

Do việc yêu cầu khởi kiện của bà X không được ch p nhận nên việc c p sơ thẩm kê biên tài sản bà C là không ó ăn ứ nên cần hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn c p tạm thời số 07/2017/QĐ-BPKCTT ngày 21 tháng 8 năm 2017 ủa Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh T2. Do hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn c p tạm thời nên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện TC, tỉnh T2 hoàn trả cho bà Lê Long X số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng theo gi y gửi tiền ngày 14-8-2017.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn ứ khoản 3 Điêù 26 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/206 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Lê Long X phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn ứ vào Khoản 2, Điều 29 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/206 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Lê Thị C và chị Nguyễn Thị Mỹ D2 không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn ứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Ch p nhận kháng cáo của bà Lê Thị C;

Ch p nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Mỹ D2.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 49/2017/DS-ST ngày 25-9-2017 của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh T2 .

Căn cứ Điều 305; Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Không nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Long X đối với bà Lê Thị C về việc “tranh h p hợp đồng vay tài sản”.

2. Hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn c p tạm thời số 07/2017 QĐ-BPKCTT ngày 21 tháng 8 năm 2017 ủa Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh T2.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh huyện TC, tỉnh T2 hoàn trả cho bà Lê Long X số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.

3. Về án phí:

3.1. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Long X phải chịu 29.000.000 đồng (Hai mươi hín triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được kh u trừ 14.500.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0024112 ngày 03 tháng 4 năm 2017 ủa Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh T2 (do anh Nguyễn Văn Trú nộp thay). Bà Lê Long X còn phải nộp tiếp số tiền 14.500.000 (mười bốn triệu, năm trăm ngàn) đồng.

3.2. Án phí dân sự phú thẩm: Bà Lê Thị C và hị Nguyễn Thị Mỹ D2 không phải hịu tiền án phí phú thẩm dân sự. Chi Cụ thi hành án dân sự huyện TC hoàn trả ho bà Lê Thị C và hị Nguyễn Thị Mỹ D2 mỗi người 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng áo theo biên lai thu số 0024726 ngày 09 tháng 10 năm 2017 và biên lai số 0024726 ngày 09 tháng 10 năm 2017 ủa Chi ụ Thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh T2.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ