vanban.org

Bản án 44/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Đình C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng: khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Đình C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu và tiêu hủy 46,9909 gam cần sa. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình C mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 199…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Đình C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2017/HSST
Ngày: 19/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Chính

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Huy Hùng

Ông Nguyễn Văn Lương.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn – Thư ký Tòa án.

Đại diện VKSND Thành phố Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Tiến, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình C, Sinh ngày: 11/6/1991; Trú tại: tổ 3, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Trình độ văn hoá: lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Đình D và bà Trần Thị N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/6/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 27/2008/HSST, thi hành án tại Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình đến ngày 10/11/2009 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Dương Văn L, sinh năm 1998; Trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do, vắng mặt.

2. Anh Phạm Văn H, sinh năm 1998; Trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do, vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng đầu tháng 6/2017, Nguyễn Đình C ra thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An mua của một người đàn ông lái xe ôm không quen biết ở gần khu vực cổng chợ Vinh 2.000.000 đồng cần sa chia nhỏ bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh kiếm lời. Khi Dương Văn L và Phạm Văn H ngồi uống nước tại chân Cầu vượt Thạch Linh, L rủ H mỗi người góp 100.000 đồng mua cần sa về sử dụng, L gọi điện cho Nguyễn Đình C rồi cùng H đi đến nhà C mua cần sa. Đến 18 giờ 30 phút ngày 23/6/2017 khi C đang bán Cần sa cho Dương Văn L và Phạm Văn H bị Công an thành phố Hà Tĩnh bắt quả tang thu giữ tại Dương Văn L 02 gói ni lông kích thước 4cm x 4cm bên trong chứa cần sa và thu giữ của Nguyễn Đình C số tiền 200.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đình C tại số nhà 05, đường H, phường H, thành phố H thu giữ thêm 26 gói cần sa, C khai nhận số cần sa này cất dấu mục đích để bán.

Theo kết quả giám định của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 02 (hai) gói thực vật khô màu nâu được gói bằng túi ni lông có trọng lượng 3,6045 gam là cần sa; 26 (hai sáu) gói thực vật khô màu nâu được gói bằng túi ni lông có trọng lượng 44,4539 gam là cần sa.

Tại bản cáo trạng số 44/CTr-KSĐT ngày 24/8/2017 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Đình C về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 điều 194 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt Nguyễn Đình C từ 30-36 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa Nguyễn Đình C khai nhận: Đầu tháng 6/2017, Nguyễn Đình C ra thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An mua của một người đàn ông lái xe ôm không quen biết ở gần khu vực cổng chợ Vinh 2.000.000 đồng cần sa về chia nhỏ bán lại cho các đối tượng nghiện. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23/6/2017, khi Dương Văn L và Phạm Văn H gọi điện hỏi mua cần sa C hẹn đến trước cổng số 05, đường H, thành phố H để giao nhận cần sa, khi đang bán 02 gói Cần sa cho L và H giá 200.000 đồng bị Công an thành phố Hà Tĩnh bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở C đã tự nguyện giao nộp 01 túi đựng 26 gói cần sa.

Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Tại kết luận giám định số 85/GĐMT-PC54 ngày 26/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh 02 gói thực vật khô màu nâu được gói bằng túi ni lông có trọng lượng 3,6045 gam là cần sa; 26 gói thực vật khô màu nâu được gói bằng túi ni lông có trọng lượng 44,4539 gam là cần sa.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ kết luận hành vi của Nguyễn Đình C cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.

Hµnh vi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi bëi tÖ n¹n ma tuý ®ang lµ hiÓm ho¹, huû ho¹i søc khoÎ vµ nh©n c¸ch con ng êi, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, bị cáo có nhân thân xấu nên cần xử phạt bị cáo mức án thỏa đáng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xem xét tính chất hành vi phạm tội và hoàn cảnh rất khó khăn của bị cáo cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi lượng hình.

Bị cáo mua bán ma túy cho các đối tượng nghiện nhương chưa thu lợi, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Xét luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án cần xử mức án phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Số cần sa thu giữ tại Dương Văn L và Nguyễn Đình C có tổng trọng lượng 48,0584 gam, đã trừ mẫu giám định còn lại 46,9909 gam theo quy định tại điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu và tiêu hủy.

01 điện thoại di động Nokia và số tiền 200.000đồng thu giữ tại Nguyễn Đình C là công cụ, phương tiện phạm tội, tiền do phạm tội mà có theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Đình C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng: khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Đình C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2017.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu và tiêu hủy 46,9909 gam cần sa.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia và số tiền 200.000 đồng thu giữ tại Nguyễn Đình C.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2017 giữa cán bộ Công an thành phố Hà Tĩnh và cán bộ Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh).

Về án phí: Áp dụng điều 98, khoản 1, 2 Điều 99 BLTTHS; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Nguyễn Đình C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ