vanban.org

Bản án 44/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 01/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Đánh bạc”;

* Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự: Xử phạt Trần Anh T số tiền 15.000.000 đồng (M ời lăm tri u đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2017/HSST
Ngày: 01 - 12 - 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Th m phán – Ch t a phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân.

- Các h i th m nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Nghị;

2. Ông Bùi Đức Thuận.

- Th ký Tòa án ghi biên b n phiên tòa: Ông Đoàn Nhữ Thật – Thư ký TAND huyện Tây Sơn.

- Đ i di n VKSND huy n Tây S n, t nh Bình Đ nh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Chi – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2017/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Anh T, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H – xã B – huyện T – tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần B, sinh năm 1946 và bà: Huỳnh Thị L, sinh năm1953; vợ: Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1985; có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Ngày 22/05/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tại bản án số: 48/HSST, đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích; tiền sự: chưa. Quá trình điều tra, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt t i phiên tòa.

* Người làm chứng:

+ NLC1, sinh năm 1981 (Vắng mặt);

Địa chỉ: thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.

+ NLC2, sinh năm 1976 (Vắng mặt – có yêu cầu);

+ NLC3, sinh năm 1986 (Vắng mặt);

+ NLC4, sinh năm 1985 (Vắng mặt – có yêu cầu);

+ NLC5, sinh năm 1985 (Vắng mặt);

+ NLC6, sinh năm 1987 (Vắng mặt);

+ NLC7, sinh năm 1968 (Vắng mặt – có yêu cầu);

Đồng trú tại: Thôn H – xã B – huyện T – tỉnh Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/6/2017, Trần Anh T đến uống cà phê tại quán của bà NLC4 ở Thôn H – xã B – huyện T – tỉnh Bình Định. Ngồi chung bàn với Trần Anh T, có: NLC2, NLC3, NLC5, NLC7, NLC6 và NLC1. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, NLC2 rủ mọi người trong bàn đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Cát tê” thắng thua bằng tiền Việt Nam thì Trần Anh T, NLC3 và NLC1 đồng ý. NLC3 gọi bà NLC4 bán bài tây để thực hiện việc đánh bạc. Còn NLC5, NLC7 và NLC6 ngồi xem đánh bạc, không tham gia.

Phương thức đánh bạc là đánh “Cát tê”: Các con bạc sử dụng bộ bài tây 52 lá, chia mỗi người 06 lá bài. Tại mỗi vòng, người nào thắng ở vòng trước sẽ được đánh trước 01 lá bài. Những người chơi khác, theo vòng hoặc bỏ 01 lá bài (mặt lá úp xuống) gọi là thiệp, hoặc là sử dụng đánh (mặt lá hướng lên) với điều kiện lá bài này phải cùng chất và lớn hơn lá bài của người trước. Ván bài có tổng cộng 06 vòng đánh, trong đó 04 vòng đầu người chơi nào có ít nhất 01 vòng thắng thì được chơi ở vòng 5- 6 và ngược lại là bị tum (hoặc chết tùng). Người thắng ở vòng 04, khi vào vòng 5 - 6 sẽ được chưng bài, người thắng bài là người có lá bài cùng chất lớn nhất và được mỗi con bạc thua chung 5000 đồng. Ngoài ra, các con bạc còn quy ước cược “cá nước” và “cá đôi” với mức cược 5000 đồng.

Trần Anh T, NLC2, NLC3 và NLC1 cùng nhau đánh bạc đến khoảng 10 giờ ngày 19/6/2017, Công an huyện Tây Sơn phối hợp Công an xã Bình Tường phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc: số tiền 260.000 đồng và 02 bộ bài tây 52 lá; thu giữ tiền trong người của các con bạc dùng để sử dụng đánh bạc: Trần Anh T 50.000 đồng, NLC1 13.000 đồng, NLC3 200.000 đồng và NLC2 số tiền 10.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh T đã khai nhận có hành vi phạm tội nêu trên và nói lời nói sau cùng là xin Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bản cáo trạng số 38/2017/QĐ-KSĐT ngày 10/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố bị cáo Trần Anh T về tội "Đánh b c" theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Anh T đã khai nhận diễn biến và thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền đánh bạc không lớn thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 30 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Anh T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ và phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 07 triệu đồng.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 533.000 đồng (260.000 đồng tại chiếu bạc và 273.000 đồng của bị cáo và của những người cùng đánh bạc với với bị cáo – mang theo để sử dụng vào việc đánh bạc) và đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài, loại bài tây 52 lá là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội (Theo biên b n giao, nhận vật chứng ngày 09/11/2017 t i Chi cục thi hành án dân sự huy n Tây S n, t nh Bình Đ nh).

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các tài liệu và chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tang vật Cơ quan Điều tra thu giữ phù hợp với biên bản phạm tội quả tang. Như vậy, HĐXX đã đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 08 giờ đến 10 giờ, ngày 19/6/2017, tại quán giải khát của chị NLC4 ở thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, bị cáo Trần Anh T cùng với các đối tượng NLC2, NLC3 và NLC1 đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài “Cát tê” thắng thua bằng tiền Việt Nam. Bị cáo mang theo 80.000 đồng, đánh bạc thua 30.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng NLC2, NLC3 và NLC1 dùng vào việc đánh bạc là 533.000 đồng.

Tại bản án số 48/HSST ngày 22/05/2015, Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn xử phạt bị cáo Trần Anh T 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng (đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích). Do chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên hành vi của bị cáo Trần Anh T đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự: “Ng ời nào đánh b c trái phép d ới bất kỳ hình thức nào đ ợc thua bằng tiền hay hi n vật có giá tr từ hai tri u đồng đến d ới năm m i tri u đồng hoặc d ới hai tri u đồng nh ng đã b kết án về t i này hoặc t i quy đ nh t i Điều 249 c a B luật này, ch a đ ợc xoá án tích mà còn vi ph m, thì b ph t tiền từ năm tri u đồng đến năm m i tri u đồng, c i t o không giam giữ đến ba năm hoặc ph t tù từ ba tháng đến ba năm.”

Xét tính chất vụ án: Hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, đây là nguyên nhân và là hệ lụy làm nảy sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên HĐXX sẽ áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Qua phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX xét thấy số tiền đánh bạc không lớn, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, không cần áp dụng hình phạt tù mà áp dụng Điều 30 BLHS để phạt tiền đối với bị cáo là đủ sức giáo dục. Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, do vậy HĐXX miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo.

Đối với NLC2, NLC1, NLC3 có hành vi đánh bạc, NLC4 có hành vi cho các con bạc sử dụng nhà quán của mình để đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng và những người này chưa có tiền án, tiền sự nên không cấu thành tội phạm đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự, Công an huyện Tây Sơn đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng pháp luật.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Số tiền 533.000 đồng (Hiện gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Tây Sơn theo Biên bản giao nhận tài sản số 07/BBGN-KBTS ngày 09/11/2017) là tài sản của bị cáo và những người đánh bạc dùng để đánh bạc, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 02 (Hai) bộ bài, loại bài tây 52 lá (Theo biên b n giao, nhận vật chứng ngày 09/11/2017 t i Chi cục thi hành án dân sự huy n Tây S n, t nh Bình Đ nh) là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

* Về án phí: Cần buộc bị cáo Trần Anh T chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Đánh bạc”;

* Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt Trần Anh T số tiền 15.000.000 đồng (M ời lăm tri u đồng).

Kể từ khi có quyết định thi hành án mà bị cáo Trần Anh T không nộp đủ số tiền phạt nêu trên, thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền phải thi hành án theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: Số tiền 533.000 đồng (Năm trăm ba m i ba nghìn đồng) - (Hiện gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Tây Sơn theo Biên bản giao nhận tài sản số 07/BBGN-KBTS ngày 09/11/2017).

- Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) bộ bài, loại bài tây 52 lá (Theo biên b n giao, nhận vật chứng ngày 09/11/2017 t i Chi cục thi hành án dân sự huy n Tây S n, t nh Bình Đ nh).

* Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Anh T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ