- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sủng A S - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sủng A S (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2017/HSST Ngày 26/7/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Tiến Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vàng Chứ Vừ.
2. Ông Tòng Văn Quân
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Nguyễn Thị Bảy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Ông Vàng A Vừ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2017/HSST ngày 07/7/2017 đối với bị cáo:
Sủng A S (tên gọi khác: Không) - Sinh năm: 1987.
Nơi sinh: Xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: Không.
Con ông: Sủng Giống S; sinh năm: 1948 và bà Hạng Thị D; sinh năm: 1948 (đã chết).
Vợ: Thào Thị D - sinh năm 1982 và có 05 người con; con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 27/3/2017 đến 30/3/2017 và bị tạm giam từ 30/3/2017 cho đến nay. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Sủng A S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 25/3/2017, Sủng A S đi đến khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên để gặp một người đàn ông dân tộc Mông tên là S1 ở nước CHDCND Lào như đã hẹn trước. Qua trao đổi, S mua được 01 gói Hêrôin với giá 600.000đ và 08 viên hồng phiến với giá 300.000đ, đem về nhà chia số Hêrôin thành nhiều gói nhỏ với mục đích là để sử dụng và bán lẻ. Cụ thể: Khoảng 10 giờ ngày 27/3/2017, S đã bán cho Thào Sĩ D 01 gói Hêrôin với giá 30.000đ; khoảng 03 phút sau S tiếp tục bán cho một người đàn ông dân tộc Thái (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Hêrôin với giá 150.000đ. Số ma túy còn lại S chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an xã Pu Nhi phát hiện bắt quả tang.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định hồi 17 giờ 30 phút ngày 27/3/2017 (Bút lục số: 10,11), cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên Đông xác định tổng trọng lượng vật chứng thu giữ của Sủng A S: Số chất bột màu trắng dạng nén nghi Hêrôin có trọng lượng là 0,78 gam. Trích lấy 0,14 gam gửi giám định. 08 viên nén màu hồng nghi chất ma túy tổng hợp có trọng lượng 0,75 gam. Trích lấy 0,29 gam gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 326/GĐ-PC54 ngày 08/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy loại Hêrôin và viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Không hoàn trả lại mẫu vật sau khi giám định.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định hồi 18 giờ 00 phút ngày 27/3/2017 (Bút lục số: 12,13), cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên Đông xác định 14 gói (túi) vật chứng thu giữ của Sủng A S có tổng trọng lương là 715,51 gam. Trong đó: Túi số 1 có trọng lượng là 3,97 gam; Túi số 2 có trọng lượng là 21,51 gam; Túi số 3 có trọng lượng là 19,67 gam; Túi số 4 có trọng lượng là 0,43 gam; Túi số 5 có trọng lượng là 4,01 gam; Túi số 6 có trọng lượng là 23,54 gam; Túi số 7 có trọng lượng là 6,37 gam; Túi số 8 có trọng lượng là 1,52 gam; Túi số 9 có trọng lượng là 0,57 gam; Túi số 10 có trọng lượng là 1,7 gam; Túi số 11 có trọng lượng là 24,49 gam; Túi số 12 có trọng lượng là 40,78 gam; Túi số 13 có trọng lượng là 2,36 gam; Túi số 14 có trọng lượng là 564,59 gam. Trích lấy 192,52 gam gửi giám định ký hiệu theo thứ tự từ M1 đến M14 tương ứng với từng gói (túi).
Tại kết luận giám định số 366/GĐ-PC54 ngày 27/4/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu bột chất trắng tại mẫu M8, M9, M10 gửi giám định là Hêrôin. Và không tìm thấy thành phần chất ma túy trong các mẫu: M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M11, M12, M13, M14 gửi giám định. Hoàn lại mẫu vật sau khi giám định gồm: M1: 0,55 gam; M2: 0,18 gam; M3: 1,39 gam; M4: 0,04 gam; M5: 0,31 gam; M6: 4,11 gam; M7: 0,83 gam; M8: 0,12 gam; M9: 0,08 gam; M10: 0,10 gam; M11: 2,23 gam; M12: 4,61 gam; M13: 0,13 gam; M14: 7,13 gam.
Tại kết luận giám định số 2457/GĐ-PC54 ngày 24/5/2017 của Tổng cục cảnh sát Viện khoa học Hình sự Bộ công an kết luận: Không tìm thấy thành phần chất ma túy trong các mẫu M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M11, M12, M13, M14.
Tại Cáo trạng số: 31/QĐ-HS-VKS ngày 06 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố Sủng A S về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Điện Biên Đông giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo S cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A S từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 41 của BLHS và Điều 76 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án và 02 chiếc cân tiểu ly vỏ bằng gỗ do bị cáo dùng làm công cụ phạm tội. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 180.000đ do bị cáo phạm tội mà có.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo;
XÉT THẤY:
Xét về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Sủng A S thừa nhận vào ngày 27 tháng 3 năm 2017 đã hẹn gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông tên S1 01 gói Hêrôin và 08 viên Methamphetamine với tổng số tiền là 900.000đ với mục đích sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Bị cáo đã chia gói Hêrôin thành 06 gói nhỏ rồi cất giấu ở nhiều chỗ khác nhau, trong đó có 03 gói bỏ lẫn vào 03 gói bột trắng (3 túi sau này kí hiệu: M8,M9,M10), còn 03 gói thì đã bán 02 gói cho hai người, thu được tổng số tiền là 180.000đ. Riêng 01 gói giao nộp cho tổ công tác. Như vậy, tổng số vật chứng (Hêrôin) thu giữ của bị cáo được xác định có trọng lượng là 4,57 gam hêrôin và 0,75 gam Methamphetamine. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Việc đưa bị cáo ra xét xử công khai về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mục đích để sử dụng và để bán có đủ cơ sở để khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do lỗi của bị cáo gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Đồng thời, còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã Pu Nhi nói riêng, huyện Điện Biên Đông nói chung.
Xét về tính chất, mức độ phạm tội: Tuy chỉ mang tính chất giản đơn nhưng rất nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo luôn nhận thức được tác hại của chất ma túy không những hủy hoại sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các loại tội phạm khác, song, bị cáo vẫn bất chấp tất cả, coi thường kỷ cương phép nước, miễn sao có lợi cho cá nhân bị cáo.
Xét về nhân thân: Bị cáo xuất thân từ gia đình nông dân thuần túy, được bố mẹ nuôi dưỡng trưởng thành, không học hành mà ở nhà lao động sản xuất. Năm 2005, xây dựng gia đình và có 05 người con. Năm 2010, nghiện chất ma túy. Lẽ ra khi đã là một người chồng, một người cha rồi bị cáo phải biết tu chí làm ăn lương thiện, chịu khó lao động sản xuất, làm chỗ dựa tin cậy cho vợ con noi theo mới phải. Song, bị cáo lại không làm được như vậy mà chỉ thích ăn chơi đua đòi, lười lao động, dẫn thân vào con đường nghiện chất ma túy. Từ đó, tham gia vào hoạt động phi pháp như tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy để hôm nay phải đứng trước vành móng ngựa bị cáo có ân hận thì cũng đã muộn.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Đây là, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 của BLHS.
Để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục cũng như cai nghiện cho bị cáo sau này trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra xác minh tài sản của gia đình bị cáo không có tài sản gì giá trị, thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, là đối tượng nghiện chất ma túy, gia đình thuộc hộ nghèo của xã. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ 3,66 gam Hêrôin và 0,46 gam Methamphetamine còn lại sau giám định. Riêng 02 chiếc cân tiểu ly vỏ bằng gỗ do bị cáo dùng làm công cụ phạm tội do đã cũ không còn giá trị sử dụng cũng cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Tịch thu tiêu hủy 522,9 gam chất bột màu trắng còn lại sau giám định mà bị cáo sử dụng để pha lẫn vào hêrôin để bán cho những người nghiện.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 180.000đ do bị cáo phạm tội mà có.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên S1 người Lào đã bán Hêrôin cho bị cáo. Do quá trình điều tra chưa làm rõ được nên không nên HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với Thào Sĩ D là người mua ma túy của bị cáo đã sử dụng, quá trình điều tra cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý hành chính nên HĐXX không đề cập xử lý nữa.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số đang cư trú tại xã Pu Nhi, huyện Điện Biên Đông nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bên cạnh đó lại thuộc hộ nghèo. Vì vậy, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sủng A S.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Sủng A S (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Sủng A S 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 27/3/2017).
2. Về vật chứng vụ án:
- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
+ Tịch thu và tiêu hủy 4,57 gam Hêrôin đã giám định hết 0,91 gam, còn lại 3,66 gam Hêrôin và 0,46 gam Methamphetamine còn lại sau giám định.
+ Tịch thu và tiêu hủy 02 chiếc cân tiểu ly vỏ bằng gỗ.
+ Tịch thu tiêu hủy 522,9 gam chất bột màu trắng còn lại sau giám định mà bị cáo sử dụng để pha lẫn vào Hêrôin để bán cho các đối tượng nghiện chất ma túy.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41; điểm c khoản 2 Điều 76 tịch thu sung quỹ Nhà nước 180.000VNĐ (Một trăm tám mươi ngàn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.
Vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 07/7/2017 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông.
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sủng A S.
Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/7/2017).
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - VKSND huyện Điện Biên Đông; - Nhà tạm giữ C.A huyện Điện Biên Đông; - THADS huyện Điện Biên Đông; - Phòng NVHS CA Điện Biên Đông; - Phòng KTNV&THAHS TAND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu hố sơ THA. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lương Tiến Phương |