- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình xử
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN huyÖn"lôc"ng¹n" TØnh b¾c giang B¶n ¸n sè: 44/2017/HNGĐ-ST Ngµy 22/9/2017. “V/v!Tranh!chấp!Hôn!nhân!và!Gia!đình”! Víi!thµnh!phÇn!héi!®ång!xÐt!xö!s¬!thÈm!gåm!cã:! *ThÈm!ph¸n!–!Chñ!tọa!phiªn!toµ: Bà Lương Thị Ngọc Hà. *C¸c!Héi!thÈm!nh©n!d©n:!Ông Nguyễn Tất Bẩy. nh©n d©n huyÖn Lôc Ng¹n. Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - KiÓm s¸t viªn. xö s¬ thÈm vô ¸n dân sù thô lý sè: 220/2017/TLST-HNG§ ngày 26 tháng 7 năm 2017 về việc “ Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2017/ QĐXX - ST ngày 06 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự: * Nguyªn ®¬n: Anh Vi Văn H – Sinh năm 1973 (Có mặt). * BÞ ®¬n: Đều trú tại: Thôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. |
NỘI DUNG VỤ ÁN:"
"
*! Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 04/7/2017, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh Vi Văn H trình bày:
Anh vµ chị Triệu Thị C kÕt h«n víi nhau tõ ngày 25/01/1991 (Âm lịch). Tríc khi kÕt h«n cã ®îc t×m hiÓu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới, vợ chồng anh về chung sống cùng nhau ngay tại thôn L, xã K, huyện L. Đến năm 1994 thì vợ chồng chuyển lên sinh sống ở thôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc. Đến nay anh chị chưa đi đăng ký kết hôn tại UBND xã.
Mâu thuẫn vợ chồng anh phát sinh từ ngày 18/11/2013 (Âm lịch), đến ngày 01/3/2014 (Âm lịch) thì mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân do chị C có người đàn ông khác nên chị C đã bỏ đi, sống ly thân anh từ ngày 01/3/2014 (Âm lịch) đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay anh x¸c ®Þnh t×nh c¶m vî
1
chång không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Anh vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho anh và chị Triệu Thị C được ly hôn.
* VÒ con chung: Anh xác định vợ chồng có bốn con chung là Vi Văn T, sinh ngày 09/02/1992; Vi Văn A, sinh ngày 25/6/1996; Vi Thị B, sinh ngày 02/7/1993; Vi Văn S, sinh ngày 16/6/1998. Nay các con chung đều trưởng thành, trên 18 tuổi tự lao động nuôi sống được bản thân nên anh không có đề nghị gì về con chung.
* VÒ tµi s¶n chung, công nợ chung: Anh xác định vợ chồng có tài sản chung, có liên quan vay nợ chung nhưng vợ chồng anh tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
*Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/7/2017 và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là chị Triệu Thị C trình bày:
Chị vµ anh Vi Văn H kÕt h«n víi nhau tõ ngày 25/01/1991 (Âm lịch). Tríc khi kÕt h«n anh chị cã ®îc t×m hiÓu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn L, xã K, huyện L. Đến năm 1994 thì vợ chồng chuyển lên sinh sống ở thôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc. Đến nay anh chị cũng chưa đi đăng ký kết hôn tại UBND xã.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ ngày 18/11/2013 (Âm lịch), đến ngày 01/3/2014 (Âm lịch) thì mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H nghi ngờ chị có quan hệ với người đàn ông khác nên đã đánh chị. Vì vậy, chị đã bỏ đi sống ly thân anh H từ ngày 01/3/2014 (Âm lịch) đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị x¸c ®Þnh t×nh c¶m vî chång không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Anh Vi Văn H xin ly hôn thì chị hoàn toàn nhất trí.
* VÒ con chung: Chị xác định vợ chồng có bốn con chung là Vi Văn T, sinh ngày 09/02/1992; Vi Văn A, sinh ngày 25/6/1996; Vi Thị B, sinh ngày 02/7/1993; Vi Văn S, sinh ngày 16/6/1998. Nay các con chung đều trưởng thành, trên 18 tuổi tự lao động nuôi sống được bản thân nên chị không có đề nghị gì về con chung.
* VÒ tµi s¶n chung, công nợ chung: Chị xác định vợ chồng có tài sản chung, có liên quan vay nợ chung nhưng anh chị tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
T¹i phiªn toµ §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t ph¸t biÓu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiÕn vÒ thñ tôc tè tông cña Toµ ¸n trong qu¸ tr×nh thô lý còng nh gi¶i quyÕt vô ¸n vµ sù chÊp hµnh ph¸p luËt cña c¸c ®¬ng sù ®Òu tu©n thñ c¸c quy ®Þnh cña Bé luËt tè tông d©n sù.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng Điều 9; khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 28; Điều 35; kho¶n 4 ®iÒu 147;
2
Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Vi Văn H và chị Triệu Thị C là vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Về án phí: Anh Vi Văn H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, trả lại anh Vi Văn H số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2015/0000984 ngày 26/7/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:"
"
[1] Về hôn nhân: Anh Vi Văn H và chị Triệu Thị C kết hôn cùng nhau từ ngày 25/01/1991 (Âm lịch). Tríc khi kÕt h«n anh chị cã ®îc t×m hiÓu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương, nhưng không đi đăng ký kết hôn tại UBND xã. Trong quá trình chung sống từ đó đến nay, anh H và chị C không đi đăng ký kết hôn tại UBND xã là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh H và chị C sống ly thân nhau đã lâu. Anh H có đơn xin ly hôn chị C, do hai người chung sống cùng nhau nhưng không có đăng ký kết hôn nên cần áp dụng khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình xử không công nhận anh Vi Văn H và chị Triệu Thị C là vợ chồng.
[2] Về con chung: Anh Vi Văn H và chị Triệu Thị C có bốn con chung là: Vi Văn T, sinh ngày 09/02/1992; Vi Văn A, sinh ngày 25/6/1996; Vi Thị B, sinh ngày 02/7/1993; Vi Văn S, sinh ngày 16/6/1998. Sau khi ly hôn, do các con chung đều trưởng thành, trên 18 tuổi tự lao động nuôi sống được bản thân anh H, chị C không có đề nghị gì về con chung. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản chung: Anh Vi Văn H và chị Triệu Thị C đều xác định anh chị có tài sản chung, có liên quan vay nợ chung, nhưng cùng đề nghị để anh chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Anh Vi Văn H là dân tộc sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QuyÕt"®Þnh:"
!
- ¸p dông Điều 9; khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 28; Điều 35; kho¶n 4 ®iÒu 147; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- Về quan hệ tình cảm: Không công nhận anh Vi Văn H và chị Triệu Thị C là vợ chồng.
3
- Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Anh Vi Văn H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, trả lại anh Vi Văn H số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2015/0000984 ngày 26/7/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
Đương sự có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
N¬i!nhËn:!
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND huyÖn Lôc Ng¹n;
| - TAND TØnh B¾c Giang; - THADS huyÖn lôc ng¹n; -!Đương!sự; - Lu hå sơ, v¨n phßng. 4 | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |