- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A - giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 439/2026/HSST Ngày: 03 - 6 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Minh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Mai Lan.
2. Bà Nguyễn Thị Mai Thương.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Thành Luân - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hà Kim - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2026, tại Phòng xử án Toà án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh - Số 416/2 Dương Quảng Hàm, phường An Nhơn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 364/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 583/2026/QĐXXST-HS ngày 12/5/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 296/2026/HSST-QĐ ngày 26/5/2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P; Sinh năm 2001, tại tỉnh An Giang; Địa chỉ thường trú: Tổ A, khóm L, phường L, tỉnh An Giang; Nơi ở: Nhà T, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Phụ xế xe tải; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/11/2025 và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Em Trương Thị Ngọc N1 và người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Phạm Thị Bế N2 (mẹ ruột). Cùng địa chỉ: Số D Đường D, khu phố C, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 07/9/2025, bà Phạm Thị Bế N2 đến Công an phường T tố giác Nguyễn Văn P có hành vi quan hệ tình dục với con gái của bà, tên Trương Thị Ngọc N1, sinh ngày 23/7/2011. Công an phường T tiến hành mời P về làm rõ, kết quả xác định:
Vào khoảng 16 giờ ngày 03/9/2025, Nguyễn Văn P nhắn tin qua Facebook rủ Trương Thị Ngọc N1 đi uống nước rồi P điều khiển xe mô tô Exciter màu xanh, biển kiểm soát 67N1-375.92 đến đón Như ở khu vực gần vòng xoay A, Thành phố Hồ Chí Minh. P chở N1 đi mua nước rồi vào thuê Nhà nghỉ Minh Minh A tại địa chỉ Tổ G, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, cả hai vào phòng số 107 cùng nằm nói chuyện khoảng 10 phút thì P nói Như cho quan hệ tình dục và Như đồng ý nên cả hai tự cởi hết quần áo ra, Phú hôn Như khoảng 15 phút thì Như dạng hai chân ra, P đưa dương vật đã cương cứng vào âm đạo của Như để quan hệ tình dục khoảng 20 phút thì xuất tinh vào trong âm đạo. Sau khi quan hệ tình dục xong, P và N1 nằm nghỉ đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì P chở N1 về nhà.
Vào khoảng 02 giờ, ngày 07/9/2025, P tiếp tục chở Như đến Khách sạn H1 tại địa chỉ số D N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, cả hai vào phòng số 404, P nằm ôm Như đòi quan hệ tình dục thì Như đồng ý nên cả hai tự cởi hết quần áo ra, P nằm hôn Như khoảng 20 phút thì Như dạng hai chân ra, P dùng tay phải cầm dương vật đã cương cứng đưa vào âm đạo của Như quan hệ tình dục khoảng 15 phút thì xuất tinh vào trong âm đạo. Sau khi quan hệ tình dục xong, cả hai nằm ngủ đến khoảng 09 giờ cùng ngày thì P chở N1 về nhà.
Cả hai lần quan hệ tình dục với P vào ngày 03/9/2025 và 07/9/2025 đều do Như tự nguyện đồng ý, khi cả hai quan hệ P không sử dụng bao cao su, sau khi quan hệ Như không uống thuốc tránh thai.
Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục số 4196/KLXHTD-C09B ngày 25/9/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với Trương Thị Ngọc N1: Màng trinh rách mới vị trí 6 giờ.
Tại Kết luận giám định số 4193/KL-KTHS ngày 27/10/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với Trương Thị Ngọc N1: Không phát hiện tinh trùng và ADN nam giới trong mẫu dịch âm đạo thu của Trương Thị Ngọc N1. Lưu kiểu gen của Nguyễn Văn P tại Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) áo thun màu đen, tay ngắn, phía trước có hình ảnh màu trắng, 01 (một) quần Jeans dài màu xanh, đã qua sử dụng (tạm giữ của P).
- 01 (một) áo thun trắng xanh đỏ trước ngực áo có logo PARIS SAINT GERMAN, 01 (một) quần Jeans dài màu xanh, 01 (một) áo ngực màu trắng, 01 quần lót màu trắng, đã qua sử dụng (tạm giữ của N1).
- 01 (một) áo thun màu trắng trước ngực áo có dòng chữ SINCE 1994 TAKE OWNDEST OF YOUR CONTROLINY, 01 (một) quần vải dài màu trắng, 01 (một) quần lót màu hồng, đã qua sử dụng (tạm giữ của N1).
Đồ vật tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, số Imei: 355822262835844, đã qua sử dụng (tạm giữ của P).
Các vật chứng và đồ vật được tạm giữ theo Phiếu nhập kho vật chứng số 189/26-PNK ngày 20/3/2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.
Trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Bế N2 (người giám hộ của bị hại Trương Thị Ngọc N1) đã thỏa thuận nhận bồi thường số tiền 20.000.000 đồng của gia đình bị cáo và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 542/CT–VKS-KV7 ngày 03/4/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Xử lý theo quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Cụ thể:
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) áo thun màu đen, tay ngắn, phía trước có hình ảnh màu trắng, 01 (một) quần Jeans dài màu xanh, đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo thun trắng xanh đỏ trước ngực áo có logo PARIS SAINT GERMAN, 01 (một) quần Jeans dài màu xanh, 01 (một) áo ngực màu trắng, 01 quần lót màu trắng, đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo thun màu trắng trước ngực áo có dòng chữ SINCE 1994 TAKE OWNDEST OF YOUR CONTROLINY, 01 (một) quần vải dài màu trắng, 01 (một) quần lót màu hồng, đã qua sử dụng.
* Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, số Imei: 355822262835844, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên. Không tham gia tranh luận, bào chữa, đề nghị Hội đồng xém xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, thẩm vấn tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vào ngày 03/9/2025 tại Nhà nghỉ M và ngày 07/9/2025, tại khách sạn H1 bị cáo P đã thực hiện hành vi giao cấu với Trương Thị Ngọc N1 (sinh ngày 23/7/2011), đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 145 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo là đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của người dưới 16 tuổi. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi giao cấu với người dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4, Điều 145 của Bộ luật hình sự, xét hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) áo thun màu đen, tay ngắn, phía trước có hình ảnh màu trắng, 01 (một) quần Jeans dài màu xanh, đã qua sử dụng của bị cáo P, bị cáo không xin nhận lại, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) áo thun trắng xanh đỏ trước ngực áo có logo PARIS SAINT GERMAN, 01 (một) quần Jeans dài màu xanh, 01 (một) áo ngực màu trắng, 01 quần lót màu trắng, đã qua sử dụng của em Như không xin nhận lại, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) áo thun màu trắng trước ngực áo có dòng chữ SINCE 1994 TAKE OWNDEST OF YOUR CONTROLINY, 01 (một) quần vải dài màu trắng, 01 (một) quần lót màu hồng, đã qua sử dụng của em Như không xin nhận lại, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, số Imei: 355822262835844, đã qua sử dụng của bị cáo P nên trả lại cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 145; điểm b, s, khoản 1 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2025.
- Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun màu đen, tay ngắn, phía trước có hình ảnh màu trắng, 01 (một) quần Jeans dài màu xanh; 01 (một) áo thun trắng xanh đỏ trước ngực áo có logo PARIS SAINT GERMAN, 01 (một) quần Jeans dài màu xanh, 01 (một) áo ngực màu trắng, 01 quần lót màu trắng; 01 (một) áo thun màu trắng trước ngực áo có dòng chữ SINCE 1994 TAKE OWNDEST OF YOUR CONTROLINY, 01 (một) quần vải dài màu trắng, 01 (một) quần lót màu hồng.
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, số I: 355822262835844.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 189/26-PNK ngày 20/3/2026 của Công an Thành phố H).
Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - VKSND khu vực 7 – TP.HCM; - Phòng THADS khu vực 7 – TP.HCM; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam số 2; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP, HS; HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Minh L | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Minh Loan HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |