vanban.org

Bản án 439/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Trúc L đối với anh Trần Công N.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 05/4/2011 cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định vi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Trúc L đối với anh Trần Công N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 439/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 20/9/2018
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kim Bình.

2. Ông Nguyễn Thanh Tiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Trúc L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số 323, ấp BT, xã BT, huyện CP, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Trần Công N, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số 269, ấp HT, xã ĐHC, huyện CP, tỉnh An Giang.

(Chị L có mặt, anh N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hồ Thị Trúc L trình bày ý kiến như sau:

- Về hôn nhân: Chị và anh Trần Công N tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐHC. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên tranh cãi làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, hơn nữa anh N lại có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác ở bên ngoài, hiện chị và anh N đã sống ly thân hơn 4 năm nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

- Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 05/4/2011. Khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Trần Công N vắng mặt tại phiên tòa.

* Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Từ giai đoạn thụ lý đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đều thực hiện tuân theo pháp luật trong tố tụng. Đối với bị đơn vắng mặt không lý do là không tuân theo pháp luật tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận. Về con chung giao cho chị L tiếp tục nuôi dạy là hợp lý và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Q, về cấp dưỡng chị L không có ý kiến và yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp:

Căn cứ vào đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì vụ án thuộc quan hệ về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo đơn khởi kiện thì chị Hồ Thị Trúc L yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Công N, con chung tên Trần Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 05/4/2011 chị L xin nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng, về tài sản chung và nợ chung chị L khai không có, do vậy Tòa án thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Do đây là loại kiện về tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, mà cụ thể là Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết, do bị đơn có nơi cư trú tại huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về trình tự và thủ tục khởi kiện:

Xét đây là vụ án không bắt buộc phải thông qua hòa giải cơ sở, nên chị L làm đơn khởi kiện trực tiếp ra Tòa án vẫn đúng quy định.

Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự theo đúng quy định tại Điều 175 và Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị L có mặt, anh N vắng mặt nhiều lần không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N là đúng theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Giữa chị Hồ Thị Trúc L và anh Trần Công N được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, nên xem đây là hôn nhân hợp pháp, do vậy tại phiên tòa hôm nay, chị L yêu cầu xin ly hôn với anh N, anh N vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa chị L và anh N thật sự đã đỗ vỡ, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, hơn nữa tại biên bản xác minh thì được gia đình anh N cung cấp xác định anh N và chị L thường xảy mâu thuẩn, giữa hai gia đình có hàn gắn nhưng không thành, vợ chồng anh N và chị L không còn chung sống với nhau nhiều năm, mặc khác trong quá trình giải quyêt vụ án Tòa án triệu tập anh N tham gia phiên hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn nhưng anh N vẫn cố tình vắng mặt, đều này thể hiện anh N không muốn đoàn tụ gia đình, do vậy việc chị L xin ly hôn với anh N là có căn cứ nên chấp nhận.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 05/4/2011, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Q đang sống ổn định với chị L và được chị L nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, hơn nữa theo nguyện vọng của cháu Q cũng có yêu cầu được sống chung vớ mẹ, do vậy Hội đồng xét xử xét giao cháu Q cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là hợp lý.

Về cấp dưỡng: Chị L không có ý kiến và yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; số tiền án phí chị L phải chịu nói trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0002505 ngày 07/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, chị L đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 175, Điều 177, Điều 227, Điều 233, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ vào Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Trúc L đối với anh Trần Công N.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 05/4/2011 cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có nên không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0002505 ngày 07/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, chị L đã nộp đủ.

- Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ