- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 439/2017/ HSST Ngày: 28/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hướng;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Pha ̣m Doan Đữ
́ c
2. Ông Trần Chinh
́
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Sy Linh̃
– Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2017, Tại Hội trường 6 - Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 297/2017/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2017, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn A - Sinh năm 1986. Tại: Đồng Nai.
HKTT: Ấp 2, xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Nấu ăn.
Con ông: Nguyễn Văn B - Sinh năm 1955 và con bà Lê Thị C - Sinh năm 1959.
Bị cáo có vợ là Thái Hoàng D - Sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 17/6/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 tháng 16 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong bản án ngày 22/12/2008.
Bị bắt ngày 07/10/2016 (có mặt).
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Văn A bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Văn A là người sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp (hàng đá). Từ ngày 25/9/2016 đến ngày 07/10/2016, A đến Khu vực Trạm thu phí thuộc ấp Cầu Hang, xã Hóa An, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mua của Sơn (không rõ lai lịch, địa chỉ) 02 (hai) lần 02 (hai) gói ma túy tổng hợp giá 500.000đ/gói. Sau đó, A phân thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán cho người nghiện.
Vào khoảng 20 giờ ngày 27/9/2016, Vũ Đức E và Vũ Quốc F mỗi người góp 100.000đ để mua ma túy, E cầm tiền và điện thoại cho A theo số điện thoại di động 0907.278.399 hỏi mua ma túy. A đồng ý và hẹn đến khu vực Khu phố 3, phường Bửu Hòa, Thành phố Biên Hòa để thực hiện hành vi mua bán. E chở F đến địa điểm đã hẹn. Tại đây, A đã bán cho E và F 01 (một) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000đ.
Khoảng 16 giờ ngày 05/10/2016, cũng với cách thức và địa điểm như trên, A đã bán cho E và F 01 (một) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000đ.
Vào lúc 10 giờ 20 phút ngày 07/10/2016, tại phòng trọ số K5/41A, Khu phố 3, phường Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, Đồng Nai. A đang cất giấu 01 (một) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) trong túi áo A đang mặc thì bị Công an Thành phố Biên Hòa phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
-01 (một) gói ma túy tổng hợp (hàng đá).
-200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền mua bán ma túy.
-01 (một) điện thoại di động hiệu ASUS, sử dụng số thuê bao 0907.278.339, có số Imel 35002068681399 của A sử dụng vào việc mua bán ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 406/PC54 - GĐMT ngày 01/11/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
Tinh thể màu trắng chứa trong mẫu M được niêm phong gửi đến giám định có thành phần Methamphetamine, trọng lượng 0,2026 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, số thứ tự 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Tại bản Cáo trạng số 210/CT/VKS-HS ngày 24/4/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn A và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A với mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
Căn cứ Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.
-Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) do A bán ma túy mà có và
01 (một) điện thoại di động hiệu ASUS, số thuê bao 0907.278.339; có số Imel 35002068681399, A sử dụng vào việc mua bán ma túy.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên; bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn A đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 07/10/2016 và các chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bản Cáo trạng số 210/CT/VKS-HS ngày 24/4/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
Bởi lẽ, bị cáo Nguyễn Văn A là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp (hàng đá). Từ ngày 27/9/2016 đến ngày 05/10/2016 tại Khu vực Khu phố 3, phường Bửu Hòa, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bị cáo A đã có hành vi hai lần bán 02 (hai) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) cho Vũ Đức E và Vũ Quốc F với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)/gói thì bị phát hiện và ngày 07/10/2016 thì bắt giữ.
Việc bị cáo A đã 02 (hai) lần bán ma túy tổng hợp cho Vũ Đức E và Vũ Quốc F vào ngày 27/9/2016 và ngày 05/10/2016 đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội nhiều lần” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý mà còn đe doạ nghiêm trọng đến an toàn trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của cộng đồng cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, là lao động nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, con bi ̣ cáo còn nhỏ . Nên có sự xem xét giảm nhẹ một phần về mức hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong thành gói số 406/PC54-GĐMT ngày 01/11/2016 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) do A bán ma túy mà có và 01 (một) điện thoại di động hiệu ASUS, số thuê bao 0907.278.339, có số Imel 3570020068681399 A sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Trong vụ án này, có Vũ Đức E và Vũ Quốc F đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Biên Hòa đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng qui định của pháp luật.
Đối với người tên Sơn (không rõ lai lịch, địa chỉ) đã có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Biên Hòa tiếp tục làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2/ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2016.
3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 406/PC54-GĐMT ngày 01/11/2016 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai.
+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động hiệu ASUS, số thuê bao 0907.278.339, có số Imel 357002068681399.
Toàn bộ vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Biên Hòa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/5/2017 và biên lai thu tiền số 0000660 ngày 04/5/2017.
4/ Về án phi: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số
́ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phi, lê ̣ phi Tòa án.
́
́
Buộc bi ̣ cáo Nguyễn Văn A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; -VKSND thành phố Biên Hòa; - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Hƣớng |