vanban.org

Bản án 438/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đối với bị đơn ông Đỗ Trung Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bị đơn ông Đỗ Trung Q có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) tổng cộng số tiền tính đến ngày 28/5/2025 là: 72.844.250 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó: trong đó: số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đối với bị đơn ông Đỗ Trung Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 438/2025/DS-ST
Ngày: 28/5/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Nga

2. Ông Vũ Huy Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long– Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp phải tham gia.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 169/2025/TLST-DS ngày 10/3/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 318/2025/QĐXXST-DS ngày 08/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 319/2025/QĐST-DS ngày 05/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN); địa chỉ: 91 Pasteur, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông LEE JAYONG – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Bên nhận ủy quyền: Công ty Luật TNHH MTV TRỌN NIỀM TIN; địa chỉ: Phòng 401, tầng 4, Tòa nhà số 739/49/1 Trần Xuân Soạn, Phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phạm Thành Nhân, sinh năm 2000; địa chỉ: Phòng 401, tầng 4, Tòa nhà số 739/49/1 Trần Xuân Soạn, Phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (theo Giấy ủy quyền lập ngày 01/7/2024).

- Bị đơn: Ông Đỗ Trung Q, sinh năm: 1991; địa chỉ: C4/149, tổ 4, ấp 3, xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông Nguyễn Phạm Thành Nhân có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Đỗ Trung Q vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản hòa giải - nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Phạm Thành Nhân trình bày:

Ngày 13/10/2023, Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) (sau đây gọi tắt là Công ty) ký Hợp đồng tín dụng số: 4985684 về việc cấp tín dụng cho Ông Đỗ Trung Q với khoản vay trị giá 38.772.000 đồng. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Đỗ Trung Q, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của ông Đỗ Trung Q. Theo Hợp đồng tín dụng, ông Đỗ Trung Q có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền là 2.376.450 đồng trong kỳ hạn 30 tháng, kể từ ngày 25/10/2023 đến ngày 25/3/2026 cho Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN).

Kể từ ngày được giải ngân đến nay ông Đỗ Trung Q chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) được 02 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là: 3.726.134 đồng. Ngày 26/11/2023 đến nay ông Đỗ Trung Q không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty.

Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu ông Đỗ Trung Q thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho ông Đỗ Trung Q biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, ông Đỗ Trung Q vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Công ty.

Do đã gởi thông báo nhắc nợ nhưng ông Đỗ Trung Q vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN). Nên Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa Án giải quyết tuyên buộc ông Đỗ Trung Q thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2025 là: 72.844.250 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 38.107.891 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 23.602.112 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 9.265.271 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 1.868.976 đồng. Đồng thời, Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) còn yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Trung Q phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 29/5/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Cách tính lãi trên được căn cứ tại Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Ngoài ra, ông Nguyễn Phạm Thành Nhân là đại diện nguyên đơn không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Đỗ Trung Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Đỗ Trung Q, ông Đỗ Trung Q có nơi cư trú tại: C4/149, tổ 4, ấp 3, xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) là ông Nguyễn Phạm Thành Nhân có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Đỗ Trung Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Phạm Thành Nhân và bị đơn ông Đỗ Trung Q theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Do không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu, căn cứ quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không xem xét về thời hiệu đối với vụ kiện này.

Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự của các bên đương sự đang thực hiện có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

Xét thấy các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp mà bị đơn không có phản đối do đó căn cứ theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn không cần phải chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó. Ông Đỗ Trung Q không phản đối các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xét xử vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo nội dung hợp đồng mà phía nguyên đơn cung cấp và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Phạm Thành Nhân thì ngày 13/10/2023, Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) ký Hợp đồng tín dụng số: 4985684 về việc cấp tín dụng cho ông Đỗ Trung Q với khoản vay trị giá: 38.772.000 đồng. Sau khi hợp đồng được ký kết, công ty đã giải ngân đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Đỗ Trung Q, số tiền giải ngân được chuyển vào tài khoản cá nhân của ông Đỗ Trung Q. Theo hợp đồng tín dụng, ông Đỗ Trung Q có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán trả góp hàng tháng với số tiền là 2.376.450 đồng trong kỳ hạn 30 tháng, kể từ ngày 25/10/2023 đến ngày 25/3/2026 cho Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN).

Kể từ ngày được giải ngân đến nay ông Đỗ Trung Q chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) được 02 kỳ với số tiền là 3.726.134 đồng. Như vậy, nội dung hợp đồng mà các bên xác lập thể hiện sự thỏa thuận tự nguyện của các bên và không trái quy định pháp luật nên có hiệu lực, phù hợp với các quy định tại Điều 117 và Điều 463 của Bộ Luật dân sự năm 2015.

Ông Đỗ Trung Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 26/11/2023. Mặc dù phía Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đỗ Trung Q vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Đỗ Trung Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán (tại Phần B: Hợp đồng tín dụng, Mục 8.Thanh toán nợ gốc, tiền lãi và các nghĩa vụ tài chính khác của bản đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng) nên ngày 26/11/2023 Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Phần B: Hợp đồng tín dụng, Mục 8.3 Trả nợ trễ hạn của bản đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng).

Tính đến ngày 28/5/2025, ông Đỗ Trung Q còn nợ Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) các khoản sau: Số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 38.107.891 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 23.602.112 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 9.265.271 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 1.868.976 đồng, tổng cộng là: 72.844.250 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi đồng).

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 38.107.891 đồng với lãi suất quá hạn là 52%/năm x 150%) từ ngày Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 38.107.891 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Nay Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đề nghị Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn ông Đỗ Trung Q:

Buộc ông Đỗ Trung Q phải trả ngay một lần cho Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2025 là: 72.844.250 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó: Số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 38.107.891 đồng; số tiền lãi trong hạn: 23.602.112 đồng; số tiền lãi quá hạn: 9.265.271 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.868.976 đồng.

Ông Đỗ Trung Q có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/5/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn ông Đỗ Trung Q vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện đã được Tòa án thông báo cho ông Đỗ Trung Q biết nhưng đến tại phiên tòa hôm nay ông Đỗ Trung Q không có văn bản gì thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn..

Căn cứ vào giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4985684 xác lập ngày 13/10/2023 của ông Đỗ Trung Q ký với nội dung yêu cầu Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) cho vay với hạn mức tín dụng là 38.772.000 đồng. Từ giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4985684 ngày 13/10/2023 của ông Đỗ Trung Q, Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đã giải ngân cho ông Đỗ Trung Q vay với hạn mức tín dụng là 38.772.000 đồng (ba mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi hai nghìn đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng, nhiều lần Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) yêu cầu ông Đỗ Trung Q thanh toán nợ nhưng ông Đỗ Trung Q không thực hiện, do đó ngày 26/11/2023, Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Căn cứ vào các điều khoản thỏa thuận tại giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 4985684 ngày 13/10/2023 ký giữa ông Đỗ Trung Q với Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) và căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91 và Điều 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, đối chiếu quy định như trên thì yêu cầu của Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) buộc ông Đỗ Trung Q phải trả ngay một lần cho Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2025 là: 72.844.250 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó: trong đó: số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 38.107.891 đồng; số tiền lãi trong hạn: 23.602.112 đồng; số tiền lãi quá hạn: 9.265.271 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.868.976 đồng, ông Đỗ Trung Q có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/5/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng, là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Đỗ Trung Q phải trả ngay một lần cho Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2025 là: 72.844.250 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó: trong đó: số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 38.107.891 đồng; số tiền lãi trong hạn: 23.602.112 đồng; số tiền lãi quá hạn: 9.265.271 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.868.976 đồng.

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 có quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) về việc buộc ông Đỗ Trung Q tiếp tục chịu lãi phát sinh sau khi xét xử là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn ông Đỗ Trung Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 3.642.213đ (ba triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm mười ba đồng); nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 117, Điều 463; Khoản 1 Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91 và Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

Áp dụng Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Áp dụng Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đối với bị đơn ông Đỗ Trung Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

2. Buộc bị đơn ông Đỗ Trung Q có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) tổng cộng số tiền tính đến ngày 28/5/2025 là: 72.844.250 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó: trong đó: số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 38.107.891 đồng; số tiền lãi trong hạn: 23.602.112 đồng; số tiền lãi quá hạn: 9.265.271 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.868.976 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/5/2025) ông Đỗ Trung Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn ông Đỗ Trung Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 3.642.213đ (ba triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm mười ba đồng).

- Hoàn lại cho nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) số tiền tạm ứng án phí là 1.305.965 đồng (một triệu ba trăm lẻ năm nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0052005 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- TAND TP. Hồ Chí Minh; -VKSDN TP. Hồ Chí Minh.

- VKSND huyện Bình Chánh;

- THADS huyện Bình Chánh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Văn Cơ  TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN BÌNH CHÁNH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TP. HỒ CHÍ MINH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút ngày 28/5/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình chánh, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Nga

2. Ông Vũ Huy Hoàng.

Tiến hành nghò aùn vụ án dân sự thuï lyù soá 169/2025/TLST-DS ngaøy 10 thaùng 3 naêm 2025 veà vieäc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giöõa:

- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN); địa chỉ: 91 Pasteur, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông LEE JAYONG – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Bên nhận ủy quyền: Công ty Luật TNHH MTV TRỌN NIỀM TIN; địa chỉ: Phòng 401, tầng 4, Tòa nhà số 739/49/1 Trần Xuân Soạn, Phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phạm Thành Nhân, sinh năm 2000; địa chỉ: Phòng 401, tầng 4, Tòa nhà số 739/49/1 Trần Xuân Soạn, Phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (theo Giấy ủy quyền lập ngày 05/07/2023)

- Bị đơn: Ông Đỗ Trung Q, sinh năm: 1991; địa chỉ: C4/149, tổ 4, ấp 3, xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào taøi lieäu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định cuûa pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 117, Điều 463; Khoản 1 Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91 và Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

Áp dụng Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Áp dụng Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) đối với bị đơn ông Đỗ Trung Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

2. Buộc bị đơn ông Đỗ Trung Q có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) tổng cộng số tiền tính đến ngày 28/5/2025 là: 72.844.250 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó: trong đó: số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 38.107.891 đồng; số tiền lãi trong hạn: 23.602.112 đồng; số tiền lãi quá hạn: 9.265.271 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.868.976 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/5/2025) ông Đỗ Trung Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn ông Đỗ Trung Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 3.642.213đ (ba triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm mười ba đồng).

- Hoàn lại cho nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV MIRAE ASSET (VN) số tiền tạm ứng án phí là 1.305.965 đồng (một triệu ba trăm lẻ năm nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0052005 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Biểu quyết 3/3 trên từng vấn đề

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 28 tháng 05 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNGXÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Cơ 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ