vanban.org

Bản án 437/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2022/HSST ngày 20/07/2022 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ: 04 (bốn) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2022. Bị cáo Nguyễn Thanh Đ phải nộp án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2022/HSST ngày 20/07/2022 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 437/2022/HS-PT
Ngày: 22-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn

Các Thẩm phán:1/ Ông Vũ Văn Lệ

2/ Ông Phạm Viết Hùng

- Thư ký phiên tòa: Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Viễn Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 342/2022/TLPT-HS, ngày 29/08/2022 đối với bị cáo Nguyễn Thanh Đ do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2022/HSST ngày 20/07/2022 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thanh Đ; giới tính: Nam; sinh ngày 28 tháng 7 năm 1995, tại thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 123/29/23 đường P, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 137/104/6 (phòng số 6) đường P, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không ; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: chạy xe ôm; con ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 04/01/2022. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (không có kháng cáo, không bị kháng nghị):

Công ty T3 không liên quan đến kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 50 phút, ngày 04/01/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận P phối hợp Công an P, quận P tuần tra đến trước nhà số F đường C, Phường G, quận P, thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Nguyễn Thanh Đ đang ngồi trên xe mô tô hiệu Honda Blade, màu đỏ đen, biển số 50N2-102.27 có biểu hiện nghi vấn nên đưa về Công an P, quận P kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện trong ngăn kéo phía sau túi xách màu xám mà Đ đang đeo bên người có 01 cuộn giấy màu trắng, bên trong cuộn giấy có 04 túi ny lon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi ny lon màu đen bên trong chứa 10 viên nén màu hồng, Đ khai là ma túy Đ nhận từ Hồ N (chưa rõ lai lịch), Đ mang đi bán cho người nghiện nên Công an Phường 07, quận P lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong ma tuý để xử lý.

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/01/2022, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thanh Đ tại Phòng số 06, nhà số A đường P, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Đ.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh Đ khai nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/01/2022, Đ đang ở nhà số A đường P, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh thì có bạn tên Hồng T1 (không rõ lai lịch) gọi điện thoại qua mạng alo nói Đ qua nhà Hồng T1 ở hẻm N, phường B, quận B (không rõ địa chỉ) để lấy ma túy đi giao cho khách, Đ đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Honda Blade, màu đỏ đen, biển số 50N2-102.27 chạy đến nhà của Hồ N, Hồ N giao cho Đ 01 gói giấy màu trắng, Đ cất gói giấy trên vào ngăn sau của túi xách đang đeo trên người, sau đó T1 nhắn tin qua alo dặn Đ giao số ma túy trên cho khách có nick alo là H, địa điểm giao nhận ma túy là số F đường C, Phường G, quận P rồi lấy số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) mang về đưa cho Thơ 6.700.000 đồng (sáu triệu bảy trăm ngàn đồng), còn lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) là tiền T1 trả công cho Đ đi giao ma túy cho T1. Điền nhận ma túy trên rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Blade, màu đỏ đen, biển số 50N2-102.27 đi đến trước nhà số F C, Phường G, quận P, Đ lấy điện thoại ra gọi cho H nhưng H chưa kịp nghe điện thoại thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Đ quen biết Thơ cách đây 03 tháng và có đi giao đồ ăn cho T1, m i lần đi giao đồ ăn thì T1 trả cho Đ tiền công khoảng 30.000 đồng, cách ngày bị bắt 01 tuần Thơ nói đổi ch ở và nhờ Đ đi giao hàng, số hàng Đ đi giao cho T1 không còn là đồ ăn nữa mà là những gói giấy màu trắng nhỏ hoặc những gói nylon màu bạc nhỏ và số tiền Điền thu của khách cho T1 là từ 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) đến 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và T1 trả công cho Đ nhiều hơn trước tuy chỉ đi giao 01 đoạn đường ngắn là từ 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng) đến 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nên Đ biết số hàng mà Hồng T1 nhờ Đ đi giao là ma túy, do cần tiền trả nợ và đóng tiền thuê nhà nên Đ đồng ý đi giao ma túy giúp Hồ N. Số tiền thu lợi từ việc Đ giúp T1 mua bán ma túy tính đến ngày bị bắt là 1.000.000 đồng và Đ đã tiêu xài hết. Điền khai 05 ngày trước khi bị bắt, Đ có giao ma túy cho H theo yêu cầu của Hồng T1 tại trước nhà số F đường C, Phường G, quận P và được Hồng T1 trả công 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng).

Theo Bản kết luận giám định số 460/KLGĐ-MT ngày 12/01/2022 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận:

01 gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh Đ; Nguyễn T2 (người chứng kiến); Nguyễn Phước Q (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường 07, quận P, bên trong có:

+ Tinh thể màu trắng được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9236gam (một phẩy chín hai ba sáu gam), loại Ketamine.

+ 10 viên nén màu hồng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,0172gam (bốn phẩy không một bảy hai gam), loại MDMA.

Nguyễn Thanh Đ có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng là 4,0172gam (bốn phẩy không một bảy hai gam), loại MDMA và 1,9236gam (một phẩy chín hai ba sáu gam), loại Ketamine.

m1 loại Ketamine là 1,9236gam/20g x 100% = 9,6%

m2 loại MDMA là 4,0172gam/5g x 100% = 80,3%

Tổng cộng: m1 + m2 = 89,9%

Như vậy, Nguyễn Thanh Đ có hành vi bán hai chất ma túy nhưng tổng trọng lượng chưa đủ theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 13/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2022/HSST ngày 20/07/2022 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Thanh Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2022.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/7/2022, bị cáo Nguyễn Thanh Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định. Đồng thời bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, song không đưa ra chứng cứ nào mới.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và mức án đã tuyên phạt bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được thêm tình tiết hay chứng nào mới để làm cơ sở xem xét nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 20/07/2022, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, đến ngày 30/7/2022, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

Tại phiên tòa, trên cơ sở toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai về toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh Đ và nội dung bản án sơ thẩm đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vì mục đích vụ lợi, vào lúc 18 giờ 50 phút ngày 04/01/2022, Nguyễn Thanh Đ đã bị bắt quả tang có hành vi tàng trữ ma túy ở thể rắn có khối lượng là 4,0172 gam (bốn phẩy không một bảy hai gam), loại MDMA và khối lượng 1,9236 gam (một phẩy chín hai ba sáu gam), loại Ketamine nhằm mục đích để bán lại cho người khác. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đã xét xử bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

Xét kháng cáo của bị cáo:

Khi lượng hình thì Tòa án nhân dân Phú Nhuận đã xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được thêm tình tiết hay chứng nào mới để làm cơ sở xem xét. Hội đồng xét xử nhận thấy mức án 04 (bốn) năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, đơn kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2022/HSST ngày 20/07/2022 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ: 04 (bốn) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2022.

3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án.

Bị cáo Nguyễn Thanh Đ phải nộp án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ