vanban.org

Bản án 436/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 23/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Phạm Đức H 24(Hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức H pham tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 436 /2019/HSST
Ngày 23/8/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Xây

2. Ông Nguyễn Quang Huy

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái

Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 434/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 450/2019/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:

Phạm Đức H, tên gọi khác: không. Sinh ngày 13/12/1980. HKTT: Tổ 11,

phường CG, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên ; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn L, đã chết và bà Lương Thị L1; Vợ, con chưa có; Tiền sự: Không.

- Tiền án: 01: Tại bản án số 84/2017/HSST ngày 28/3/2017 của Tòa án nhân

dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2019, chấp hành xong phần hình phạt bổ sung ngày 28/3/2017.

- Nhân thân:

+ Tại Quyết định số 3933/QĐ-UB ngày 17/8/2004, Chủ tịch UBND thành

phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng.

+ Tại Quyết định số 2153/QĐ-UBND ngày 09/10/2006 UBND quận Ba

Đình, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy không có nơi cư trú nhất định vào trung tâm giáo dục lao động xã hội thời hạn 24 tháng.

+ Tại Quyết định số 19/QĐ/XPVPHC ngày 30/9/2003 của Công an phường

Phú Xá, thành phố Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng về hành vi “Gây thiệt hại đến tài sản của người khác”.

+ Tại Quyết định số 206/QĐ-XPHC ngày 03/12/2010 của Công an phường

Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

+ Tại bản án số 150/2009/HSST ngày 20/5/2009 bị Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/11/2009 được miễn hình phạt theo Nghị Quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 18/6/2009 của Quốc Hội.

+ Tại bản án số 248/2009/HSST ngày 20/7/2011 bị Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù giam về tội “ Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong phần hình phạt chính; thi hành xong hình phạt bổ sung ngày 14/8/2011.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên

(bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2019 đến nay), có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Hoàng H1, sinh năm 1995 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 14, phường ĐQ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

Người chứng kiến:

1. Ông Phạm Đình Tiệp, sinh năm 1953. (Vắng mặt)

Trú tại: Tổ 01, phường TTh, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

2. Ông Đặng Đức H2, sinh năm 1995(Vắng mặt)

Trú tại: Tổ 14, phường ĐQ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 17/5/2019 tổ công tác Công an phường TTh,

thành phố TN làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực tổ 28, phường TTh, thành phố TNphát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy (sau xác định Phạm Đức H). Tổ công tác tiếp cận yêu cầu kiểm tra phát hiện H thả từ tay bên phải xuống rãnh nước cạnh đường nơi H đứng 01 gói giấy bạc màu vàng, tổ công tác đã tiến hành nhặt gói giấy bạc màu vàng nên, sau đó H khai nhận gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng là Heroine mua về để sử dụng. Tổ công tác mời người chứng kiến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ của H vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ 01 chiếc xe mô tô BKS 28F2-3100 số máy LC 150FMC 000475000; số khung FRL 100. 200002243.

Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên

tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột mầu trắng thu giữ của H có khối lượng là 0,075 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 815/KL-PC09 ngày 25/5/2019 của Phòng

kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của H là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,075 gam.

Tại cơ quan điều tra Phạm Đức H khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày

17/5/2019 H một mình điều khiển xe mô tô BKS 28F2- 3100 đến khu vực đầu cầu Võ Ngựa, thuộc phường TTh, thành phố TNđể tìm mua ma túy Heroine sử dụng cho bản thân. Tại đây H gặp và mua của người đàn ông không quen biết 01 gói nilon màu vàng với giá tiền là 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy H cầm gói ma túy ở trong lòng bàn tay phải rồi đi mua xi lanh để sử dụng, khi đi đến cổng Bệnh Viện Gang thép bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ vật chứng như đã nêu trên;

Lời khai của Phạm Đức H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả

tang, lời khai của ngườ i chứ ng kiến , vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: 01 (mô ̣t) bì niêm phong ký hiệu H ; 01 chiếc xe mô

tô đã qua sử dụng, BKS 28F2-3100, nhãn hiệu FRIENDLY, số khung RI100* 200002243, số máy FMG *00047530*; loại xe 2 bánh 50-175 cm3, số loại C100.Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 430/CT-VKSNDTPTN, ngày 27/7/2019 Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Phạm Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Phạm Đức H khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như bản

cáo trạng đã mô tả. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố, không oan, sai.

- Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái

Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:tuyên bố bị cáo Phạm Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều

51BLHS, xử phạt bị cáo Phạm Đức H từ 24 đến 30 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS, Điều 106

BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu H; Hoàn trả cho anh Hà Hoàng H1 01 chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, BKS 28F2-3100, nhãn hiệu FRIENDLY, số khung RI100* 200002243, số máy FMG *00047530*; loại xe 2 bánh 50-175 cm3, số loại C100.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng chỉ xin

HĐXX xem xét cho được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người

phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy nên vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 17/5/2019, tại tổ 28, phường TTh, thành phố TN, Phạm Đức H là đối tượng đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích có hành vi tàng trữ là 0,075 gam Heroine nhằm mu ̣c đich để sử du ̣ng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an

́ phường TTh, thành phố TN phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố

bị cáo Phạm Đức Hvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Do đó, cần phải bị xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền sự, có 01 tiền án và nhân thân xấu đã 03 lần bị xét xử và 04 lần bị xử phạt hành chính và đưa đi cai nghiện tại trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động Xã hội nH bị cáo không lấy đó bài học để tu dưỡng bản thân mà vẫn vi phạm pháp luật. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng H vẫn sử dụng trái phép chất ma túy, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 BLHS. Tiền án của bị cáo đã được áp dụng làm tình tiết định tội nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Khoản 1 Điều 52 BLHS.

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì nên Hội đồng xét

xử không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo. Phần hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

. Vật chứng vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong chứa chất ma

túy cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, BKS 28F2-3100, nhãn hiệu FRIENDLY, số khung RI100* 200002243, số máy FMG *00047530*; loại xe 2 bánh 50-175 cm3, số loại C100, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh Hà Hoàng H1cho bị cáo mượn để làm ăn, anh H1 không biết bị cáo sử dụng xe để phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho anh H1 quản lý, sử dụng.

. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và có quyền

kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, H khai mua của mô ̣t nam thanh niên không

quen biết ở khu vực Cầu VN thuộc phường TTh, thành phố TNnên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều

51; Điều 38 BLHS xử phạt: Phạm Đức H 24(Hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày

tuyên án để đảm bảo thi hành án

2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu

tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong chứa ma túy;

Hoàn trả cho anh Hà Hoàng H1: 01 chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, BKS

28F2-3100, nhãn hiệu FRIENDLY, số khung RI100* 200002243, số máy FMG *00047530*; loại xe 2 bánh 50-175 cm3, số loại C100

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 433 ngày

18/7/2019 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số

97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết

có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ