vanban.org

Bản án 435/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Giao cháu 02 con chung tên Nguyễn Khánh P - sinh ngày: 06/11/2009 và Nguyễn Khánh V - sinh ngày: 02/12/2012 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh B được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5- AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 435/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 01-12-2025
“V/v Tranh chấp HNGĐ - xin ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thúy An

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Chi

Ông Nguyễn Văn Mẫn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thái Trang - Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2025/TLST - HNGĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 315/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 16 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thu H - Sinh năm: 1991 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, tỉnh An Giang.

-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B - Sinh năm: 1986. (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã N, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Dương Thị Thu H trình bày:

Chị H và anh B tự tìm hiểu nhau khoảng gần 02 tháng, bắt đầu chung sống như vợ chồng năm 2007. Đến 2012, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện G. Vợ chồng hạnh phúc gần 14 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm kinh tế gia đình. Sau đó, cuộc sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm cuộc sống, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn trong thời gian dài. Khi chị H có yêu cầu ly hôn thì anh B nói muốn sao cũng được, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Chị và anh B đã ly thân từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh B.

Về con chung: Quá trình chung sống chị H và anh B có 02 con chung tên Nguyễn Khánh P - sinh ngày: 06/11/2009 và Nguyễn Khánh V - sinh ngày: 02/12/2012. Hiện 02 con đang chung sống với chị H, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con do chị đủ điều kiện và khả năng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử tiến hành nghị án. Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, và phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tiến hành trình tự, thủ tục của phiên tòa sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc nên Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh B là phù hợp.

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh B đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H cương quyết yêu cầu ly hôn, anh B không có ý kiến và không đưa ra được giải pháp để hàn gắn mâu thuẫn nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh B.

Về con chung: Quá trình chung sống chị H và anh B có 02 con chung tên Nguyễn Khánh P - sinh ngày: 06/11/2009 và Nguyễn Khánh V - sinh ngày: 02/12/2012. Hiện 02 con đang chung sống với chị H, chị H yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Hai cháu đều có văn bản thể hiện nguyện vọng tiếp tục chung sống với chị H. Anh B không có ý kiến phản đối. Do đó đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu P và V cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Do chị H không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Dương Thị Thu H khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Văn B. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại xã G, tỉnh An Giang nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự, thủ tục.

Quá trình giải quyết vụ án, anh B đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, được triệu tập đến Tòa án tham gia tố tụng nhưng anh B có đơn xin vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa do bận công việc. Xét thấy sự vắng mặt của anh B không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Thu H và anh Nguyễn Văn B chung sống với nhau từ năm 2007, đến năm 2012 anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị H xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không có sự tin tưởng, quan tâm chăm sóc nhau. Anh chị đã ly thân từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình....”. Anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không sống chung trong một khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm sóc nhau.

Quá trình giải quyết vụ án, anh B không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh B ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận cho chị Dương Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Về con chung:

Theo lời trình bày của chị H và giấy khai sinh và các tài liệu do chị H cung cấp thì có cơ sở xác định chị H và anh B có 02 con chung tên Nguyễn Khánh P - sinh ngày: 06/11/2009 và Nguyễn Khánh V - sinh ngày: 02/12/2012. Hiện 02 con đang chung sống với chị H, chị H yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Hai cháu đều có văn bản thể hiện nguyện vọng tiếp tục chung sống với chị H. Anh B không có ý kiến phản đối. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu P và V cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Do chị H không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử giải quyết.

Anh B được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;

Án phí ly hôn sơ thẩm chị H phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002612 ngày 30/9/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

2. Về con chung: Giao cháu 02 con chung tên Nguyễn Khánh P - sinh ngày: 06/11/2009 và Nguyễn Khánh V - sinh ngày: 02/12/2012 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh B được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm chị H phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002612 ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Báo cho chị H biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày tuyên án (ngày 10/12/2025). Anh B được tính kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ