- Tranh chấp gì? án hình sự — "VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 435/2024/HS-PT Ngày 05-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang
Các Thẩm phán:
Ông Trần Minh Châu
Ông Ngô Đức Thụ
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 424/TLPT-HS
ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Dương Chí D do có kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 182/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm
2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Dương Chí D; Sinh ngày 13 tháng 02 năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí
Minh; Hộ khẩu thường trú: Số 274/58A, đường L, Phường A, quận GV, Thành
phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc
tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông
Dương Thanh C1 (Đã chết) và bà Trương Thị L1; Bị cáo có vợ tên Hà Thị Minh
V1 và 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: 1)Tại Bản án số 204/HSST ngày 23/6/1995 của Tòa án nhân
dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án
treo về tội “Cướp giật tài sản của công dân”; 2) Tại Bản án số 125/2013/HSST
ngày 26/01/2013 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt
08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt tù
ngày 27/01/2018).
Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 02 phút ngày 05/01/2024, Dương Chí D điều khiển xe
ô tô hiệu Ford Everst, mang biển kiểm soát số 51K-748.01 chở bà Hà Thị Minh V1 (là vợ của D), bà Bùi Thị H1 (là chị của bà V1), ông Lê Văn S1 (là tài xế của D) lưu thông trên đường Trương Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh sau đó rẽ phải ở đường nhánh dẫn ra đường Nguyễn Thị Minh Khai hướng về đường Huyền Trân Công Chúa, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tốc độ xe lúc này khoảng 16km/h. Trong lúc D điều khiển xe ô tô rẽ phải, do thiếu quan sát và không giữ khoảng cách an toàn, D đã để xe ô tô va chạm với xe mô tô, mang biển kiểm soát số 59E1-494.36 do ông Vũ Ngọc Đ1 điều khiển lưu thông cùng chiều phía bên trái; ốp cản trước và cung trước ốp chắn bùn bánh trước bên trái xe ô tô của D va chạm đầu tay cầm lái bên phải xe mô tô của ông Đ1 dẫn đến ông Đ1 cùng xe mô tô ngã xuống đường. Sau tai nạn, Bà V1 đã gọi xe cấp cứu để đưa ông Đ1 vào bệnh viện; đến 02 giờ 20 phút ngày 09/01/2024, ông Đ1 tử vong tại Bệnh viện Nhân dân 115.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ
vào lúc 00 giờ 25 phút ngày 05/01/2024 tại giao lộ đường Nguyễn Thị Minh Khai - Trương Định, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh của Phòng Cảnh sát giao thông - Công an Thành phố Hồ Chí Minh mô tả hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn:
“Nơi xảy ra tai nạn là tại giao lộ mặt đường được tráng nhựa bằng phẳng,
thoáng đạt, không hạn chế tầm nhìn; đường Nguyễn Thị Minh Khai rộng 17m20; áp dụng lưu thông 01 chiều xe (áp dụng đoạn từ Trương Định về hướng Huyền Trân Công Chúa) và được chia 03 làn đường; Làn thứ I (ở sát lề phải) rộng 07m70, làn thứ II rộng 03m50 và làn thứ III rộng 06m00; đường Trương Định rộng 11m10, áp dụng lưu thông 01 chiều và được chia 03 làn xe; Làn thứ I (ở sát lề phải) rộng 04m50, làn thứ II rộng 03m30 và làn thứ III rộng 03m30; đường nhánh từ Trương Định ra Nguyễn Thị Minh Khai rộng 04m00”.
Theo Kết luận giám định tử thi số 1103-24/KL-KTHS ngày 21/02/2024
của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Vũ Ngọc Đ1:
“2. Kết luận:
- Nguyên nhân chết: Vũ Ngọc Đ1 chết do chấn thương sọ não.
- Trong máu không tìm thấy cồn và ma túy.
- Trong máu và chất chứa dạ dày có sự hiện diện của Acetaminophen
(Paracetamol) (thuốc giảm đau, hạ sốt).”
Theo Kết luận giám định số 1060/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phân
viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Công an:
“1. Dấu vết trượt xước, in hằn, mất sơn màu đỏ và chất màu đen bên trái
ốp cản trước và cung trước ốp chắn bùn bánh trước bên trái xe ô tô biển số 51K-
748.01, có chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên phù hợp với dấu vết trượt
xước, bám chất màu đỏ và màu đen đầu tay cầm lái bên phải xe mô tô biển số
59E1-494.36, có chiều từ sau về trước. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai
phương tiện.
2. Khi xảy ra tai nạn giao thông xe ô tô biển số 51K-748.01 lưu thông trên
đường dẫn giao lộ từ đường Trương Định đi Nguyễn Thị Minh Khai và đang
chuyển hướng rẽ phải vào đường Nguyễn Thị Minh Khai; xe mô tô biển số
59E1-494.36 lưu thông bên trái phía trước cùng chiều so với xe ô tô biển số
51K-748.01.
3. Vị trí va chạm giữa các phương tiện chiếu xuống mặt đường thuộc làn
7,70m (sát lề chuẩn) đường Nguyễn Thị Minh Khai theo hướng Cách Mạng
Tháng 8 đi Huyền Trân Công Chúa”.
Tại Cơ quan điều tra, Dương Chí D khai nhận hành vi phạm tội như đã
nêu trên.
Tại Bản án số: 182/2024/HS-ST ngày 04-9-2024 của Tòa án nhân dân
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định:
Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Dương Chí D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù
tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo
của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, bị cáo Dương Chí D có đơn kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Dương Chí D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên.
Đồng thời, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã bồi thường thiệt hại
và đại diện bị hại có đơn miễn trách nhiệm hình sự, để giảm nhẹ một phần hình
phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân
tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, xét thấy
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội,
mức hình phạt là phù hợp. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng
cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin xem xét được hưởng án treo để đi làm nuôi
gia đình, được tự cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, để trở thành công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Chí D về nội dung quyền kháng cáo
và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an
Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 1, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người đại diện của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ lời khai của bị cáo Dương Chí D tại phiên tòa phúc thẩm, cùng
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 00 giờ 02 phút ngày 05/01/2024, tại giao lộ Nguyễn Thị
Minh Khai - Trương Định thuộc phường Bến Thành, Quận 1, bị cáo Dương Chí D đã có hành vi điều khiển xe ôtô hiệu Ford Everest, biển số 51K - 748.01 rẽ phải, chuyển hướng từ đường Trương Định vào đường Nguyễn Thị Minh Khai, thiếu quan sát và không giữ khoảng cách an toàn, gây tai nạn với xe mô tô mô tô hiệu Honda Wave, biển số 59E1 - 494.36 do ông Vũ Ngọc Đ1 điều khiển lưu thông bên trái, cùng chiều. Hậu quả vụ tai nạn làm bị hại Vũ Ngọc Đ1 chết do chấn thương sọ não.
Hành vi nêu trên của Dương Chí D đã vi phạm quy định tại Điều 12,
Điều 15 của Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết người. Do đó, Bản án sơ thẩm số: 182/2024/HS-ST ngày 04-9-2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị
cáo Dương Chí D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo Dương Chí D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường bộ, dẫn đến hậu quả làm chết người, gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội nên cần có mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi xem xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử còn cân nhắc, xem xét đến tính chất lỗi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo D.
Về tính chất lỗi: Trong vụ án này, nguyên nhân gây tai nạn là do bị
cáo D điều khiển xe chuyển hướng rẻ phải, thiếu quan sát, không đảm bảo
khoảng cách an toàn với các phương tiện khác di chuyển cùng chiều gây ra tai
nạn giao thông.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy
định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các
tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường
thiệt hại và được người đại diện bị hại làm đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và
đề nghị giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình
tiết giảm nhẹ nào mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo từng 02 lần bị Tòa án xử phạt về tội “Cướp giật
tài sản của công dân” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vào các năm 1995,
2013. Mặc dù, bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích nhưng vẫn bị
coi là người có nhân thân xấu khi quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50
của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như đã
phân tích thì mức án 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối
với bị cáo là phù hợp, đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung
cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo
của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ chấp nhận quan điểm đề nghị của vị đại
diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật của Bộ luật tố
tụng hình sự,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Dương Chí D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị
cáo đi chấp hành án.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận 1; (2) - P.V06 - CATP; (1) - Bị cáo; (2) - THADS Quận 1; (1) - TAND Quận 1; (2) - Công an Quận 1; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Giang |