- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bà P kiện bà L tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố t ng dân s; Điều 148 Bộ luật Tố t ng dân s; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 435/2023/DS-PT Ngày 29-9-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Ngọc Thạch
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đ i di n Vi n i m t nh n d n t nh B nh Dư ng tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi - i m sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai v án dân s th lý số 169/2023/TLPT-DS ngày 30/5/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân s sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã BC, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 262/2023/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2023, giữa các đương s :
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Túy P, sinh năm 1965; địa chỉ: tổ 10, ấp An Mỹ, xã AD, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947; địa chỉ: tổ 10, ấp An Mỹ, xã AD, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho ông Trịnh DT, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: số 1061 Phạm Văn Đồng, khu phố 1, phường LT, thành phố TD, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 04/11/2022); có mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn bà Nguyễn Thị L.
NỘI DUNG V ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 27/9/2022, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị Túy P trình bày:
Ngày 05/6/2021, nguyên đơn có cho bà Nguyễn Thị L vay số tiền 6.100.000.000 đồng (sáu tỷ một trăm triệu đồng), thời hạn vay là 05 tháng, lãi suất hai bên thỏa thuận là 2% mỗi tháng. Hai bên chỉ lập giấy tay về việc cho mượn tiền có chữ ký và dấu lăn tay của hai bên và có con bà L là bà Thủy ký tên lăn tay vào giấy cho vay tiền chứ không được công chứng chứng th c tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Bà Nguyễn Thị L có giao cho bà P bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho bà P giữ đ làm tin và hiện tại bà P cũng đang giữ bản chính giấy chứng nhận.
Sau khi vay số tiền trên bà L không trả cho nguyên đơn bất cứ một khoản tiền gốc hay tiền lãi nào. Mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ với bà L đ yêu cầu bà L trả cho nguyên đơn số tiền mà bà L đã vay mượn của nguyên đơn nhưng bà L không chịu trả.
Đ làm tin cho việc vay tiền, bà L đã đưa cho bà P giữ 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số T995727, số vào sổ 1416/QSDĐ/244/QĐUB do UBND huyện BC cấp cho hộ bà Nguyễn Thị L ngày 04/02/2002.
Do vậy nay bà P làm đơn kh i kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả cho bà P số tiền nợ gốc 6.100.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi.
* Tại bản tự khai đề ngày 14/02/2023 và tại phiên tòa ngƣời đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trịnh DT trình bày:
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của phía nguyên đơn bà Phan Thị Túy P đó là buộc bà Nguyễn Thị L phải trả số tiền vay là 6.100.000.000 đồng (sáu tỷ một trăm triệu đồng), vì bà Nguyễn Thị L hoàn toàn không vay tiền của bà Phan Thị Túy P. Bà Nguyễn Thị L không nhận bất kỳ đồng tiền vay nào của bà Phan Thị Túy P, bà L đã lớn tuổi nên luôn sống dưới s hỗ trợ và chăm sóc của con cháu nên bà Nguyễn Thị L hoàn toàn không có nhu cầu vay tiền của bà P và đặc biệt là số tiền lớn 6.100.000.000 đồng (sáu tỷ một trăm triệu đồng).
Đối với giấy cho vay tiền đề ngày 5/6/2021 do bà Phan Thị Túy P cung cấp cho Tòa án có chữ ký của bà Nguyễn Thị L thì đây là giấy vay tiền do bà P gian dối tạo lập, bà L hoàn toàn không ký lên tờ giấy nào có m c đích là đ vay tiền. Tuy nhiên, trước đó bà Nguyễn Thị L có thỏa thuận đ ký với bà P giấy tờ đ bảo lãnh cho khoản vay 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) của bà Nguyễn im Chi đối với bà Phan Thị Túy P. Bà Nguyễn im Chi, sinh năm 1962, nơi cư trú: ấp iến An, xã AD, thị xã BC, tỉnh Bình Dương là bạn thân của con gái bà L là bà Lê Thị Thu Thủy. Bà Nguyễn im Chi có vay của bà Phan Thị Túy P số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng), bà Nguyễn im Chi có dùng giấy tờ nhà đất của bà Chi đ bảo đảm cho khoản vay trên.
Vì lý do cần giấy tờ nhà đất đ làm thủ t c chuy n nhượng, nên bà Nguyễn im Chi có nhờ bà Lê Thị Thu Thủy (con gái bà Nguyễn Thị L) dùng giấy tờ nhà đất đ đưa thế vào bảo đảm cho khoản vay 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) trên của bà Chi đ bà Chi nhận lại giấy tờ nhà đất của mình. Bà Lê Thị Thu Thủy sau đó đã nhờ mẹ của mình dùng Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số T995727 do Ủy ban nhân dân huyện Bết Cát cấp ngày 04/2/2002 đ đưa cho bà Phan Thị Túy P và thỏa thuận ký bảo lãnh cho khoản vay 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) của bà Chi.
Bà Phan Thị Túy P lợi d ng s tin tư ng trong mối quan hệ tình cảm hàng xóm láng giềng với nhau và s già yếu của bà Nguyễn Thị L trong việc đọc và tìm hi u thông tin nên bà P đã đưa cho bà L ký lên giấy tờ vay ngày 05/6/2021 với nội dung là bà Nguyễn Thị L có vay của bà Phan Thị Túy P số tiền 6.100.000.000 đồng (sáu tỷ một trăm triệu đồng). Vì tin tư ng hàng xóm láng giềng và việc già yếu trong đọc viết nên bà L đã không xem lại nội dung tờ giấy bà P đưa ra đ ký.
Lời khai của bà Phan Thị Túy P có khai trong buổi đối chất là bà P có giao cho bà L 6.100.000.000 đồng (sáu tỷ một trăm triệu đồng) bằng tiền mặt. Tuy nhiên, bà P hoàn toàn không giao cho bà L bất kỳ khoản tiền nào b i vì bản chất các bên không có s việc vay tiền. Bà P cũng không có tài liệu, bằng chứng nào chứng minh là đã giao tiền cho bà L 6.100.000.000 đồng (sáu tỷ một trăm triệu đồng).
Bà L không đồng ý yêu cầu kh i kiện của bà P.
Tại Bản án dân s sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã BC, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Túy P đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo giấy cho vay tiền đề ngày 5/6/2021.
+ Buộc bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm thanh toán cho bà Phan Thị Túy P số tiền nợ gốc 6.100.000.000đ (sáu tỉ một trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
+ Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
+ Buộc bà Phan Thị Túy P trả lại cho bà Nguyễn Thị L 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số T995727, số vào sổ 1416/QSDĐ/244/QĐUB do UBND huyện BC cấp cho hộ bà Nguyễn Thị L ngày 04/02/2002.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/3/2023, bà Nguyễn Thị L là bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu xét xử lại phúc thẩm. Tại phiên tòa, người đại diện của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của i m sát viên đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Những người tiến hành tố t ng và người tham gia tố t ng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã th c hiện đúng quy định của Bộ luật Tố t ng dân s . Về nội dung: Tại Biên bản đối chất và một số tài liệu trong hồ sơ v án có mâu thuẫn xác định ai là người vay tiền nhưng không được đối chất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Thủy là người làm chứng là không phù hợp. Bà Thủy có liên quan đến v án là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh t ng, ý kiến của i m sát viên,
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Phan Thị Túy P kh i kiện bà Nguyễn Thị L yêu cầu bà L trả nợ 6.100.000.000 đồng theo Giấy cho vay tiền ngày 05/6/2021. Bà P cho rằng: bà L vay tiền hết thời hạn 05 tháng nhưng không trả nợ nên bà kh i kiện với yêu cầu như trên.
[2] Bị đơn khai: con của bà là bà Thủy có quan hệ bạn bè với bà Chi. Bà Chi mượn tiền của bà P 600.000.000 đồng, bà Chi thế chấp sổ đất của bà Chi cho bà P đ vay tiền. Do cần lấy sổ đất ra đ làm thủ t c chuy n nhượng nhưng không có tiền, nên bà Chi nhờ bà Thủy lấy sổ đất của mẹ là bà L thế chấp cho bà P đ lấy sổ đất của bà Chi ra và bà P lợi d ng lòng tin của bà L già yếu đã 74 tuổi và của bà Thủy. bà P đưa giấy cho vay tiền yêu cầu bà L, bà Thủy ký tên, đi m chỉ. Bà L và bà Thủy không xem lại nội dung và tin tư ng nên đã ký tên, đi m chỉ vào giấy cho vay tiền và bà P cất giữ giấy và kh i kiện bà L. Bà L và bà Thủy xác định không nhận 6.100.000.000 đồng của bà P nên không đồng ý trả nợ.
[3] Thấy rằng: Theo giấy cho vay tiền ngày 05/6/2021 ghi bên vay bên B là bà L. Mặt sau, trang 2 tại phần người vay là bà L và bà Lê Thị Thu Thủy cùng ký tên, đi m chỉ. Phần cam kết của các bên: Bên A (bà P) có trách nhiệm đưa tiền cho bên B (bà L) đúng số tiền (6.100.000.000 đồng) như nội dung trên. Bà P khai: bà giao 6.100.000.000 đồng cho bà L sau khi bà L và bà Thủy cùng ký tên đi m chỉ vào giấy cho vay tiền. Điều 463, 465 Bộ luật Dân s quy định: bên cho vay có nghĩa v giao tài sản đầy đủ cho bên vay. Bà L không thừa nhận, bà P chưa chứng minh được đã giao 6.100.000.000 đồng cho bà L. Lời khai của bà L, bà Thủy đều xác định: bà Chi (là người có mối quan hệ bạn bè thân với bà Thủy) có mượn tiền 600.000.000 đồng của bà P và bà Chi nhờ bà Thủy lấy sổ đất của mẹ là bà L thế chấp cho bà P (đảm bảo số nợ 600.000.000 đồng của bà Chi) đ lấy sổ đất của bà Chi ra và bà Thủy có tham gia ký tên, đi m chỉ tại phần người vay của giấy cho vay tiền. Do vậy, cần phải đưa bà Thủy tham gia tố t ng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đ làm rõ (khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố t ng dân s ). Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Thủy tham gia với tư cách người làm chứng là không đúng pháp luật. Lời khai của bà Chi không thừa nhận vay tiền của bà P, không biết việc vay tiền giữa bà L với bà P là có mâu thuẫn với lời khai của bà Thủy và bà L. Bà L, bà Thủy có yêu cầu đối chất với bà Chi nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm đối chất làm rõ. hoản 1 Điều 100 Bộ luật Tố t ng dân s về đối chất quy định: Theo yêu cầu của đương s hoặc khi xét thấy cần thiết có mâu thuẫn trong lời khai của các đương s , người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương s với nhau, giữa đương s với người làm chứng hoặc những người làm chứng với nhau.
[4] Xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ và vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng; cần hủy bản án án sơ thẩm đ Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại v án theo quy định pháp luật. ét yêu cầu kháng cáo của bị đơn là có cơ s chấp nhận một phần. Ý kiến của i m sát viên là phù hợp. Án phí phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
- Căn cứ các Điều: 147, 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố t ng dân s ;
- Căn cứ Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L. Hủy Bản án số 26/2023/DS-ST ngày 27/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã BC. Chuy n hồ sơ v án cho Tòa án nhân dân thị xã BC giải quyết lại v án theo thủ t c sơ thẩm.
2. Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật k từ ngày tuyên án./.
N i nhận:
| - Các đương s ; - V SND tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thị xã BC; - Chi c c THADS thị xã BC; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |