vanban.org

Bản án 435/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Ngọc Q ly hôn với ông Nguyễn Trọng Nh.

Về con chung: Bà Trần Ngọc Q được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung tên Nguyễn Thị Thu Phương, sinh ngày 13/3/2007 và Nguyễn Phương Nam, sinh ngày 17/4/2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân Quyến - Nhân"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Ngọc Q ly hôn với ông Nguyễn Trọng Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 435/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 9 - 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tấn Hưng.

2. Bà Trương Thị Tú Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 260/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 258/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 255/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc Q, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Tổ 07, ấp MT, xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng Nh, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Tổ 07, ấp MT, xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 15/6/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Ngọc Q trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Q và Ông Nh tự nguyện tiến tới hôn nhân và bắt đầu chung sống vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MĐ ngày 25/7/2003. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian dần về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp, Ông Nh bỏ đi nên vợ chồng đã ly thân cách nay khoảng 06 năm. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể hàn gắn nên bà Q yêu cầu giải quyết cho ly hôn với Ông Nh.

- Về con chung: Bà Q và Ông Nh có 03 con chung tên Nguyễn Phúc Hậu, sinh ngày 30/4/2004, Nguyễn Thị Thu Phương, sinh ngày 13/3/2007 và Nguyễn Phương Nam, sinh ngày 17/4/2010, hiện cả 03 con đang chung sống với bà Q. Bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Thu Phương và Nguyễn Phương Nam, không yêu cầu Ông Nh cấp dưỡng cho các con. Con chung tên Nguyễn Phúc Hậu đã thành niên và có khả năng lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn ông Nguyễn Trọng Nh vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.

Tại phiên tòa,

Bà Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đó giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với Ông Nh; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung tên Nguyễn Thị Thu Phương và Nguyễn Phương Nam, không yêu cầu Ông Nh cấp dưỡng nuôi các con; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung; về nợ chung không có.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:

- Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho bà Q ly hôn với Ông Nh.

- Về con chung: Đề nghị giao cả hai con chung tên Nguyễn Thị Thu Phương, sinh ngày 13/3/2007 và Nguyễn Phương Nam, sinh ngày 17/4/2010 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng; bà Q không yêu cầu Ông Nh cấp dưỡng nuôi các con nên không xem xét. Đối với con chung tên Nguyễn Phúc Hậu đã thành niên và có khả năng lao động được nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét

- Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

- Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự về việc ly hôn, bị đơn cư trú tại huyện CP, tỉnh AG nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Q và Ông Nh tự nguyện tiến tới hôn nhân và bắt đầu chung sống vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG ngày 25/7/2003, nên hôn nhân được pháp luật công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn; làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, bà Q và Ông Nh có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp nên vợ chồng đã sống ly thân nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ghi nhận ý kiến, tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng Ông Nh vắng mặt nên việc hòa giải đoàn tụ không thành; cho đến nay vợ chồng vẫn sống ly thân và không thể tự hàn gắn tình cảm.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tuy nhiên, giữa bà Q và Ông Nh đã không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Q ly hôn với Ông Nh theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà Q và Ông Nh có 03 con chung tên Nguyễn Phúc Hậu, sinh ngày 30/4/2004, Nguyễn Thị Thu Phương, sinh ngày 13/3/2007 và Nguyễn Phương Nam, sinh ngày 17/4/2010, hiện cả 03 con đang chung sống với bà Q; bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương và cháu Nam. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, cháu Phương và cháu Nam do bà Q trực tiếp nuôi dưỡng; cả cháu Phương và cháu Nam đều có nguyện vọng tiếp tục chung sống với bà Q. Do đó, để tạo điều kiện cho các con ổn định về tâm lý, chỗ ở, học tập và đảm bảo sự phát triển bình thường của các con, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Nguyễn Thị Thu Phương và Nguyễn Phương Nam cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung tên Nguyễn Phúc Hậu đã thành niên và có khả năng lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng: Bà Q không yêu cầu Ông Nh cấp dưỡng cho các con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét; trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bà Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Q đã nộp. Ông Nh không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Ngọc Q ly hôn với ông Nguyễn Trọng Nh.

2. Về con chung:

- Bà Trần Ngọc Q được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung tên Nguyễn Thị Thu Phương, sinh ngày 13/3/2007 và Nguyễn Phương Nam, sinh ngày 17/4/2010.

- Bà Trần Ngọc Q không yêu cầu ông Nguyễn Trọng Nh cấp dưỡng cho các con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Ông Nguyễn Trọng Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Bà Trần Ngọc Q cùng các thành viên gia đình của bà Q, không được cản trở Ông Nh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp Ông Nh lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Q có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của Ông Nh.

- Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Q đã nộp theo biên lai thu số 0003882 ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CP, tỉnh AG.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Ngọc Q và ông Nguyễn Trọng Nh có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ