vanban.org

Bản án 433 — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "BẢN ÁN DSST HƯƠNG- DŨNG"
  • Căn cứ chính? Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 164 Bộ luật Dân sự
TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
HUYEÄN CHAÂU THAØNH
TÆNH TIEÀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 433/ 2019/DS-ST.
Ngaøy: 24 / 12 / 2019.
V/v: Tranh chấp “ Đòi quyền sử dụng đất”.

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CHAÂU THAØNH – TIEÀN GIANG

- Vôùi thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù :

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toaø: OÂng Trần Văn Nhơn.

Caùc Hoäi thaåm nhaân daân: Ông Phạm Thành Trại.

Ông Lê Văn Minh.

- Thö kyù ghi biên bản phieân tòa: Ông Nguyễn Thành Phục - Thư ký Toaø aùn nhaân daân huyeän Chaâu Thaønh, tænh Tieàn Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Lan Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29/11/2019 và ngaøy 24/12/2019, taïi truï sôû Toaø aùn nhaân daân huyeän Chaâu Thaønh, tỉnh Tiền Giang, mở phiên tòa xeùt xöû sô thaåm coâng khai vuï aùn thuï lyù soá: 135/2019/TLST-DS ngaøy 04/4/2019, veà việc tranh chaáp “Đòi quyền sử dụng đất”, theo Quyeát ñònh ñöa vuï aùn ra xeùt xöû soá: 194/2019/QÑST-DS ngaøy 13 tháng 11 năm 2019, giöõa caùc ñöông söï:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994. Địa chỉ: ấp MP, xã ST,

huyện CT, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

- Bị đơn: Nguyễn Văn D, sinh năm 1962. Địa chỉ: ấp TH, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1964. Địa chỉ: ấp TH, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt-có đơn xin vắng mặt).

+ Anh Phan Anh H1, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp MP, xã ST, huyện CT, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khôûi kieän ngày 15/3/2019, lôøi khai trong quaù trình giaûi quyeát vuï án và tại phiên tòa nguyeân ñôn chị Nguyễn Thị Thu H trình baøy:

Chị có 1.200m2 đất, loại đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa số 725, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp TH, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01556 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 09/01/2015 do chị đứng tên quyền sử dụng đất. Nguồn gốc thửa đất trên chị được nhận tặng cho từ cha, mẹ là ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị X vào năm 2014. Sau khi nhận đất chị và chồng là anh Phan Anh H1 đã trồng cây ăn trái trên đất như cam, bưởi, dừa. Đến cuối năm 2018, chị xây dựng hàng rào đúng ranh giới thửa đất để bảo vệ tài sản của mình thì cha chị là ông Nguyễn Văn D ngăn cản, không cho chị xây dựng hàng rào. Ông D cho rằng chỉ cho chị là 1000m2, phần còn lại 200m2 là của ông D, ông D đã lấy lại của chị 200m2 đất để sử dụng.

Nay chị khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn D trả lại cho chị phần đất tranh chấp theo đo đạc có diện tích là 199m2, loại đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa số 725, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp TH, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01556 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 09/01/2015 do chị đứng tên quyền sử dụng đất. Trên phần đất tranh chấp ông D có trồng một số cây ăn trái như sapô, dừa, bưởi, chị đồng ý hoàn lại giá trị cây trồng cho ông D theo định giá của Tòa án.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/4/2019 của Tòa án, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:

Ông có 1.200m2 đất, thuộc thửa số 725, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp TH, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông và vợ là bà Nguyễn Thị X đứng tên. Vào năm 2014, ông và vợ ông có tặng cho con gái là Nguyễn Thị Thu H 1.000m2 đất của thửa đất nêu trên, còn lại 200m2 là của ông. Lúc tặng cho có địa chính xã đo đạc, sau đó đến phòng công chứng Châu Thành làm thủ tục tặng cho. Nay đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông và chị H ông không có yêu cầu hay ý kiến gì. Ông xác định ông và vợ có đến phòng công chứng Châu Thành để làm hợp đồng tặng cho đất chị H, nhưng chỉ tặng cho 1000m2, việc ghi vào hợp đồng là 1200m2 là do chị H tự ghi, ông nghĩ chỉ là 1000m2 nên đồng ý thực hiện việc tặng cho. Sau khi tặng cho thì chị H quản lý, sử dụng cho đến nay. Đến cuối năm 2018, chị H xây dựng hàng rào đã lấn qua đất của ông khoảng 200m2 (phần còn lại trong thửa đất mà ông đã tặng cho chị H) nên xảy ra tranh chấp. Trên phần đất tranh chấp chị H có trồng cây ăn trái như cam, bưởi, ông có trồng một số cây ăn trái như Cam, bưởi, sapô.

Nay qua yêu cầu khởi kiện của chị H thì ông không đồng ý vì phần đất 200m2 còn lại sau khi tặng cho là của ông. Đối với cây trồng trên đất do ông trồng, nay nếu Tòa án xác định phần đất trên của chị H thì ông không có yêu cầu gì, ông sẽ tự chặt bỏ.

* Tại biên bản hòa giải ngày 13/11/2019 của Tòa án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H1 trình bày:

Anh thống nhất lời trình bày của vợ anh là chị H, trên đất tranh chấp vợ chồng có trồng cây ăn trái như cam, bưởi. Nay anh xác định phần đất trên là của cha mẹ chị H tặng cho chị H nên tùy chị H quyết định, anh không có ý kiến gì.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/10/2019 của Tòa án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X trình bày:

Bà và chồng là ông Nguyễn Văn D có cho con giá là chị Nguyễn Thị Thu H 1000m2 đất. Bà có đến phòng Công chứng Long Định để làm hợp đồng tặng cho chị H, bà có ký tên vào hợp đồng. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của chị H về việc yêu cầu ông D trả 200m2 đất bà không đồng ý, bà chỉ cho chị H 1000m2 đất.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự trong quá tình giải quyết vụ án. Đối với đương sự thì nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng khi ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ông D không biết chữ, công chứng viên không mời người làm chứng, không đọc lại cho ông D nghe nội dung của hợp đồng nên ông D không biết hợp đồng thể hiện ông tặng cho chị H 1.200m2 mà chỉ nghĩ là tặng cho 1.000m2, hợp đồng tặng cho được chứng thực trái quy định của pháp luật, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghieân cöùu caùc taøi lieäu, chứng cứ coù trong hồ sô vuï aùn được thẩm tra tại phieân toaø, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hoäi ñoàng xeùt xöû nhaän ñònh:

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X có đơn xin vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà X.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo kết quả đo đạc, thẩm định của Tòa án, phần đất tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn D có diện tích đo đạc thực tế là 199m2,; thuộc một phần thửa số 725; tờ bản đồ số 02; có tổng diện tích 1.199,0m2 (có giảm 01m2 so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 1.200m2 do sai số đo đạc); loại đất trồng cây lâu năm; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01556 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 09/01/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu H đứng tên, đất tọa lạc tại ấp TH, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

Theo kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án, phần đất trên có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị X, vào ngày 18/8/2014 ông D và bà X lập hợp đồng tặng cho toàn bộ diện tích đất 1.200m2 cho con gái là chị Nguyễn Thị Thu H, hợp đồng được công chứng, chứng thực tại Văn phòng công chứng Châu Thành. Trước khi lập hợp đồng tặng cho ông D, bà X có yêu cầu địa chính xã đo đạc và sau đó đến phòng công chứng để lập hợp đồng tặng cho. Sau khi nhận đất, chị H và chồng là anh Phan Anh H1 đã tiến hành trồng cây ăn trái như cam, bưởi trên toàn bộ diện tích đất được tặng cho từ năm 2014 cho đến khi xảy ra tranh chấp, ông D, bà X biết nhưng không có ngăn cản hay ý kiến gì. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp có diện tích 199m2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thu H. Do đó, chị H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn D trả lại phần đất 199m2 mà ông D tự ý lấy lại để sử dụng là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ông Nguyễn Văn D cho rằng chỉ tặng cho chị H 1000m2 đất, còn lại 200m2 là của ông nên ông có quyền lấy lại để sử sụng. Xét lời trình bày của ông D là không có cơ sở, Hội đồng xét xử không chấp nhận lời trình bày của ông D, bởi lẽ: Tại hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 18/8/2014 ông D, bà X đã tặng cho toàn bộ thửa đất số 725, diện tích 1.200m2 cho chị H, việc tặng cho được đo đạc, ông D thừa nhận khi đo đạc ông có chứng kiến. Kết quả xác minh cán bộ địa chính thực hiện việc đo đạc thể hiện ông D yêu cầu đo toàn bộ diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được tặng cho đất thì chị H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chị H cùng chồng là anh H1 đã tiến hành trồng cây ăn trái trên toàn bộ diện tích đất 1200m2, ông D, bà X biết nhưng không có tranh chấp hay ngăn cản gì, nếu ông D chỉ tặng cho chị H 1000m2 thì khi chị H và chồng là anh H1 sử dụng luôn phần 200m2 còn lại đã xảy ra tranh chấp chứ không phải đến năm 2018 khi chị H làm hàng rào mới xảy ra tranh chấp.

Tại phiên tòa, ông D yêu cầu hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 18/8/2014 đối với phần đất tranh chấp có diện tích 199m2, Hội đồng xét xử nhận thấy, ông D xác nhận trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông đã được Thẩm phán giải thích, đã được những người ở địa phương hướng dẫn về việc nếu có yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông với chị H đối với phần đất 199m2 mà ông cho rằng không có tặng cho chị H thì làm đơn yêu cầu phản tố gửi Tòa án xem xét, giải quyết, tuy nhiên trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông D không làm đơn phản tố để yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết mặc dù đã biết rõ về quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của mình. Ông D đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu của ông D được thực hiện sau thời điểm Tòa án mở phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, điều này trái với quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông D.

Tại phiên tòa ngày 29/11/2019 ông D cho rằng chữ ký trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/8/2014 không phải của ông, từ trước đến nay khi làm việc gì ông chỉ lăn tay vào các văn bản, giấy tờ, tuy nhiên do từ trước đến nay ông chưa từng ký tên vào bất kỳ một văn bản hay giấy tờ gì nên ông không có chữ ký để so sánh do đó không thể tiến hành giám định được. Ông D cam kết cung cấp các văn bản, giấy tờ mà ông đã lăn tay trước khi lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/8/2014 khi mở lại phiên tòa để chứng minh cho việc ông không biết chữ, không ký tên được, tuy nhiên ông D cũng không cung cấp cho Tòa án bất kỳ tài liệu nào để chứng minh cho lời trình bày của mình. Ông D cam kết trong thời hạn hai tuần (kể từ ngày 29/11/2019) ông sẽ khiếu nại đối với Văn phòng công chứng Châu Thành về việc ông không ký tên nhưng công chứng viên lại chứng thực hợp đồng do ông ký, tuy nhiên hết thời hạn cam kết ông D cũng không thực hiện việc khiếu nại, điều này thể hiện ông D đã không thực hiện việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Bà Nguyễn Thị X thừa nhận có đến Văn phòng công chứng Châu Thành để lập hợp đồng tặng cho đất cho con gái là chị H, có ký tên vào hợp đồng tặng cho, tuy nhiên bà chỉ cho chị H 1000m2, còn lại 200m2 là của bà. Xét lời trình bày của bà X là không phù hợp với các tài liệu chứng cứ có mà Tòa án thu thập được, Hội đồng xét xử không chấp nhận lời trình bày của bà X.

Anh Phạm Anh H1 cho rằng đất là do cha mẹ của chị H tặng cho chị H nên tùy chị H quyết định, xét lời ý kến của anh H1 là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với các loại tài sản trên đất tranh chấp:

+ Cây trồng trên đất do ông Nguyễn Văn D trồng gồm có:

Sapô loại B2 02 cây x 752.000đ/cây, thành tiền 1.504.000đồng.

Dừa loại C 05 cây x 142.000đồng/cây, thành tiền 710.000đồng.

Bưởi loại B2 05 cây x 770.000đồng/cây, thành tiền 3.850.000đồng.

+ Cây trồng do chị H trồng gồm có:

Bưởi loại B1 04 cây x 1.413.000đồng/cây, thành tiền 5.648.000đồng.

Bưởi loại B2 15 cây x 752.000đồng/cây, thành tiền 11.280.000đồng.

Dừa loại C 09 cây x 142.000đồng/cây, thành tiền 1.278.000đồng.

Cam loại C 03 cây x 129.000đồng/cây, thành tiền 387.000đồng.

+ Hàng rào do chị H xây dựng:

Diện tích 2,5mx1,8m=4,5m2, kết cấu: cột bê tông đúc sẵn, lưới B40, đơn giá 219.000đ/m2, thành tiền 886.950đồng.

Ông D không yêu cầu chị H hoàn lại giá trị cây trồng, nếu Tòa án xác định đất của chị H thì ông tự chặt bỏ, chị H đồng ý hoàn lại giá trị cây trồng cho ông D theo định giá. Xét thấy, các loại cây trồng trên đất tranh chấp do ông D trồng còn giá trị sử dụng, chị H tự nguyện hoàn lại giá trị cây trồng cho ông D là phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án khong phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

Vì caùc leõ treân:

QUYEÁT ÑÒNH:

- Căn cứ các khoản 1 Ñieàu 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ điều 164, 166 Bộ luật dân sự 2015.

- Căn cứ các Ñieàu 26, 166, 170, 203 của Luật đất đai 2013;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyeân xöû: Chaáp nhaän yeâu caàu khôûi kieän cuûa chị Nguyễn Thị Thu H.

1. Buoäc ông Nguyễn Văn D trả cho chị Nguyễn Thị Thu H phần đất có diện tích là 199m2, thuộc một phần thửa số 725, tờ bản đồ số 02, loại đất trồng cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01556 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 09/01/2015 do chị Nguyễn Thị Thu H đứng tên, đất tọa lạc tại ấp TH, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang, có vị trí tứ cận như sau: Hướng bắc giáp đất Lê Thị Bích T; Hướng nam giáp đường bê tông; Hướng đông giáp đất ông Nguyễn Văn D; Hướng tây giáp đất Nguyễn Thi L (có sơ đồ đo vẽ kèm theo).

- Chị Nguyễn Thị Thu H được quyền quản lý, sử dụng các tài sản trên diện tích đất 199m2 gồm:

Sapô loại B2 02 cây;

Dừa loại C 14 cây;

Bưởi loại B1 04 cây;

Bưởi loại B2 20 cây;

Cam loại C 03 cây.

Hàng rào: Diện tích 2,5mx1,8m=4,5m2, kết cấu: cột bê tông đúc sẵn, lưới B40

- Chị Nguyễn Thị Thu H hoàn lại cho ông Nguyễn Văn D giá trị cây trồng trên đất là 6.064.000đồng.

Thực hiện giao đất và tiền ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Veà aùn phí:

Chị Nguyễn Thị Thu H chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, chị H đã nộp 300.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009587 ngày 04 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân dự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xem như đã nộp xong án phí.

Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Keå töø ngaøy ông Nguyễn Văn D coù yeâu caàu thi haønh aùn, neáu chị Nguyễn Thị Thu H chaäm thi haønh soá tieàn treân thì phaûi traû laõi ñoái vôùi soá tieàn chaäm traû tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoaû thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc Ñieàu 6, 7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï./.

Cỡ chữ