vanban.org

Bản án 433/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh và hình phạt: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 433/2022/HSST
Ngày 11 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Cần

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

2. Bà Nguyễn Thị Phương Lan

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 414/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 423/2022/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1979, tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi cư trú: Tổ X, phường C, thành phố T, tỉnh thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn Ph (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1930; Vợ là Lê Thị Phương L, sinh năm 1980 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2002; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 200/1999/HSST ngày 7/10/1999 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Hoàng Văn T 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa" (giá trị tài sản dưới 02 triệu đồng, đã nộp xong án phí và khoản tiền truy thu vào tháng 8 năm 2003)

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2005/HSST ngày 29/6/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Hoàng Văn T 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (giá trị tài sản trên 02 triệu đồng, đã nộp xong án phí và khoản tiền truy thu vào tháng 9 năm 2010, khoản tiền bồi thường trách nhiệm dân sự 660.000đ công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên không yêu cầu bồi thường và đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án).

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2005/HSST ngày 22/8/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Hoàng Văn T 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Tổng hợp với phần hình phạt 30 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 127/2005/HSST ngày 29/6/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, buộc Hoàng Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 48 tháng tù ((giá trị tài sản dưới 02 triệu đồng, đã nộp xong án phí và khoản tiền truy thu vào ngày 28/9/2012).

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2011/HSST ngày 22/7/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Hoàng Văn T 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (giá trị tài sản trên 02 triệu đồng, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2012, nộp xong án phí ngày 23/5/2017, khoản tiền bồi thường trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu bồi thường và đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án).

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0020772/QĐXPVPHC ngày 06/12/2018 của Công an phường C, thành phố T, xử phạt Hoàng Văn T 200.000đ về hành vi "Gây rối trật tự công cộng" (đã chấp hành xong ngày 26/4/2019).

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0075475/QĐXPVPHC ngày 17/01/2019 của Công an thành phố Thái Nguyên, xử phạt Hoàng Văn T 2.500.000đ về hành vi "Xâm hại đến sức khỏe của người khác" (đã chấp hành xong ngày 23/01/2019).

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0058900/QĐXPVPHC ngày 19/5/2020 của Công an phường thành phố Thái Nguyên, xử phạt Hoàng Văn T 2.500.000đ về hành vi "Xâm hại đến sức khỏe của người khác" (đã chấp hành xong ngày 27/5/2020).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2022, tạm giam từ ngày 21/7/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người chứng kiến:

1. Ông Trần B, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ Y, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Nguyễn Lương S, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ Z, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 40 phút ngày 12/7/2022, tổ công tác Công an phường H, thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực Tổ 01, phường H, thành phố T thì phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra đối tượng nam giới khai tên là Hoàng Văn T, sinh năm 1979; trú tại: Tổ X, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đồng thời tự giác lấy từ trong lòng bàn tay trái ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác, T khai nhận đó là ma túy, loại Heroine, mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng thu giữ của T trong phong bì niêm phong ký hiệu A1, rồi đưa T cùng vật chứng về cơ quan công an để giải quyết theo thẩm quyền.

Hồi 19 giờ 30 phút, ngày 12/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Hoàng Văn T xác định có khối lượng là 0,213 gam; rồi niêm phong trong phong bì ký hiệu B gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để tiến hành giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 1085/KL-KTHS ngày 21/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, đã kết luận: “Chất bột mầu trắng trong phong bì ký hiệu B gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,213 gam”.

Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn T đã khai nhận: Do bản thân T là đối tượng nghiện ma túy, nên khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 12/7/2022, T đi bộ từ nhà đến khu vực phường H, thành phố T để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến nơi T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua xong, T cất giấu gói ma túy trên trong trong lòng bàn tay trái và đi tìm nơi để sử dụng. Khi T đi đến khu vực tổ 1, phường HS thì bị tổ công tác của Công an phường H, thành phố T kiểm tra, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 413/CT-VKSTPTN, ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 413/CT-VKSTPTN, ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 21 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2022; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu B bên trong còn lại 0,203 gam ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu B1 chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu.

Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.

Người chứng kiến: Ông Trần B và Nguyễn Lương S trình bày: Khoảng 15 giờ 40, ngày 12/7/2022 ông Trần B, ông Nguyễn Lương S có việc đi qua khu vực chợ Dốc Hanh, thuộc tổ 1, phường H, thành phố T thì được Tổ công tác của Công an phường HS mời chứng kiến việc kiểm tra 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra người này khai tên là Hoàng Văn T, sinh năm 1979, trú tại: Tổ X, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy mầu trắng, bên trong chứa chất bột mầu trắng, T khai là ma túy, loại Heroine, mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm pháp quả tang, niêm phong vật chứng và đưa T về cơ quan công an giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn T tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 15 giờ 40 phút ngày 12/7/2022, tại khu vực Tổ 01, phường H, thành phố T, Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,213 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo T khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực phường H, thành phố T với số tiền là 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

Hành vi tàng trữ trái phép 0,213 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân do Hoàng Văn T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Bản cáo trạng số 413/VKSTPTN ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Khoản 1 Điều 249 của BLHS quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c) Heroine …..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.

[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

- Về nhân thân: Từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 9/12, sau khi nghỉ học ở nhà. Do không chịu lao động tu dưỡng nên đã sớm mắc nghiện ma túy; Từ năm 1999 đến năm 2020 đã nhiều lần bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn không có ý thức cải tạo tu dưỡng mà tiếp tục lao vào vòng tội lỗi – Bị cáo là người có nhân thân xấu.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình – Do đó bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Mức án mà đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:

“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[7]. Việc xử lý hành vi và đối tượng liên quan đến vụ án: Liên quan đến vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho Hoàng Văn T, tuy nhiên do T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

[8]. Về vật chứng vụ án:

Còn lại 01 phong bì niêm phong ký hiệu B bên trong còn lại 0,203 gam ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu B1 chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu - Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.

[9]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Về tội danh và hình phạt:

2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2022.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu B bên trong còn lại 0,203 gam ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu B1 chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 19 ngày 14/10/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên)

4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ