- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh Q phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Minh Q.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 34 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI _________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 433/2018/HSPT Ngày: 28/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thu;
Các Thẩm phán:
Ông Võ Hồng Sơn;
Ông Thái Duy Nhiệm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Trọng Thuyết, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 201/2018/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
* Bị cáo kháng cáo, bị kháng nghị:
Lê Minh Q, sinh ngày 22/11/1997; ĐKHHTT và chỗ ở: Thôn HC, xã TL, huyện NC, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: Lớp 9/12; con ông Lê Minh K (đã chết) và bà Trần Thị Th; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 25/8/2015, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt Q 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 18 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2017 đến nay; có mặt.
* Ngư i bào ch a cho bị cáo: Luật sư Lê Quốc T - Văn phòng luật sư Lê Quốc H thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Hồi 21 giờ 10 phút ngày 04/3/2017, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại Km 101+100 trên quốc lộ 15A, thuộc địa phận làng Mồng, xã Mỹ Tân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã tiến kiểm tra xe taxi hãng MEKONG, biển kiểm soát 36A-02721 do Trần Văn V điều khiển. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện tại ghế sau của xe ô tô có hai gói rau cải, trong giữa mỗi gói rau đều có 01 bánh bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là hêrôin; tại tấm chắn nắng bên phụ phía trước của xe có một vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu 555, bên trong có 02 gói nilon chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể, nghi là ma túy đá. Kiểm tra người Lê Minh Q, là khách đi xe đang ngồi ở ghế phụ đã phát hiện trong túi quần bò phía trước bên trái có một vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu 555, bên trong có 01 gói nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, nghi là ma túy đá và một túi nilon chứa chất bột màu vàng, nghi là Ketamine. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ Lê Minh Q và xe ô tô taxi để lập biên bản chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra để điều tra theo thẩm quyền.
Vật chứng và đồ vật tạm giữ của Lê Minh Q gồm: 02 (hai) bánh chất bột màu trắng, 03 (ba) gói nilon chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể, 01 (một) gói nilon chứa chất bột màu vàng; 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu NOKIA màu tím đã qua sử dụng; 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu IPHONE màu trắng đã qua sử dụng; 01 ví da màu đen; 01 túi xách da màu đen và số tiền 420.000 đồng; 01 (một) xe ô tô taxi BKS 36A - 02721 và giấy tờ xe.
Tại bản Kết luận giám định số 735/MT-PC54 ngày 09/3/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: 02 (hai) bánh chất bột màu trắng, trọng lượng 674,153 gam có heroin; 03 (ba) gói nilon chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể, trọng lượng 23,370 gam, có methamphetamine; 01 (một) gói nilon chứa chất bột màu vàng, trọng lượng 2,127 gam, có ketamine.
Quá trình điều tra, Lê Minh Q khai nhận: Do quen biết từ trước nên trưa ngày 04/3/2017, người đàn ông tên Đ ở phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa điện thoại cho Lê Minh Q đến nhà Đ bàn công việc. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Q đến nhà Đ. Tại đây, Đ đưa số điện thoại và bảo Q lên huyện Quan Hóa gặp một người phụ nữ để nhận ít đồ (Q hiểu là lấy ma túy) vận chuyển về thành phố Thanh Hóa cho Đ, đồng thời Đ đưa cho Q 2.000.000 đồng để chi phí trên đường và dặn khi nào về sẽ thanh toán tiền công cho Q. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Q thuê xe taxi BKS 36A-02721 do anh Trần Văn V điều khiển đi lên huyện Quan Hóa. Khi đi đến phố Đồng Tâm huyện Bá Thước, Q điện thoại vào số máy mà Đ đã đưa thì người phụ nữ nghe máy bảo Q đợi ở ngã ba Đồng Tâm sẽ có người mang ma túy đến. Q và anh V vào quán cơm ở ngay ngã ba phố Đồng Tâm ăn cơm và chờ đợi. Khoảng 20 giờ cùng ngày, một nam giới khoảng 30 tuổi, Q không quen biết đi xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) đến đưa cho Q một vỏ bao thuốc lá 555 bên trong chứa 02 hộp loại 10gam ma túy đá, một vỏ bao thuốc lá 555 bên trong chứa 01 hộp loại 05 gam ma túy đá, 01 chỉ Ketamine và 02 bánh Heroin. Sau khi kiểm tra thấy là ma túy, Q bảo anh V lái xe về thành phố Thanh Hóa. Khi đi đến Km 101+100 trên quốc lộ 15A, thuộc địa phận làng Mồng, xã Mỹ Tân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Thanh Hóa kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Theo lời khai của Lê Minh Q, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng tên Đ, xác định ở phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa có đối tượng tên là Hoàng Văn Đ, sinh năm 1983. Tuy nhiên, Hoàng Văn Đ không thừa nhận việc thuê Q đi vận chuyển ma túy như lời khai của Q. Do vậy, chưa đủ cơ sở để xử lý đối với Hoàng Văn Đ trong vụ án này. Cơ quan điều tra đã tách hành vi của Hoàng Văn Đ để tiếp tục điều tra, xác minh khi nào đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với người phụ nữ và người nam giới đã giao dịch, đưa ma túy cho Q tại Đồng Tâm, huyện Bá Thước do Q không biết tên, tuổi địa chỉ nên không có cơ sở để xác định và xử lý. Đối với Trần Văn V là lái xe taxi, do không biết Q vận chuyển ma túy nên không xem xét xử lý. Chiếc xe taxi biển kiểm soát 36A-02721 và giấy tờ xe là của Công ty taxi Mê Kông, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản Kết luận giám định số 2325/MT-PC54 ngày 30/11/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: Chất bột trắng ngà của bánh ký hiệu B1 niêm phong gửi giám định có hàm lượng Heroine là 49,32%; chất bột trắng ngà của bánh ký hiệu B2 niêm phong gửi giám định có hàm lượng Heroine là 50,32%.
Tại bản Kết luận giám định số 522/C54(TT2) ngày 25/12/2017, Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát đã kết luận: Hàm lượng Methamphetamine trong mẫu ký hiệu T21 là 39,1%; hàm lượng Ketamine trong mẫu ký hiệu T22 là 30,9%; hàm lượng Methamphetamine trong mẫu ký hiệu T3 là 31,5%.
Như vậy, tổng trọng lượng Heroine sau khi trưng cầu giám định hàm lượng các chất ma túy đã thu giữ (được quy đổi theo Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân Tối cao) là 338,718 gam.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 06/02/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng điểm h khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 34 Bộ luật hình sự 1999; xử phạt Lê Minh Q tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Tại Quyết định kháng nghị số 04/QĐ-KNPT ngày 12/2/2018, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Minh Q với hai lý do: Tòa sơ thẩm quy đổi trọng lượng các chất ma túy theo hàm lượng là không đúng; mức hình phạt tù chung thân là nhẹ, không tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
Ngày 12/2/2018, bị cáo Lê Minh Q kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, xác nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xử về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là đúng, rút kháng cáo xin giảm hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức án của bản án sơ thẩm đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 04 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Căn cứ kết luận giám định trọng lượng ma túy sau giám định hàm lượng, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo vận chuyển 338,718gam Heroin là không đúng pháp luật; phải xử bị cáo với tổng trọng lượng 638,252 gam Heroin; mức hình phạt tù chung thân đối với bị cáo là chưa nghiêm. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, tăng hình phạt đối với bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Xem xét toàn diện vụ án thấy rằng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, giúp sức. Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo rút kháng cáo và xin được giữ nguyên mức án sơ thẩm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
C¨n cø vµo c¸c chøng cø, tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ phóc thÈm; kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn tµi liÖu, chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, LuËt s , bÞ c¸o, sau khi th¶o luËn vµ nghÞ ¸n, Héi ®ång xÐt xö cã c¸c nhËn ®Þnh sau ®©y:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Minh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng cơ quan điều tra thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Hồi 21 giờ 10 phút ngày 04/3/2017, tại Km 101+100 trên quốc lộ 15A, thuộc địa phận làng Mồng, xã Mỹ Tân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, Lê Minh Q đã vận chuyển trái phép 02 bánh Heroine; 03 (ba) gói ma túy dạng đá Methamphetamine; 01 (một) gói ma túy Ketamine. Các chất ma túy thu giữ của Lê Minh Q đã được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và Viện Khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát giám định để xác định trọng lượng, hàm lượng của từng chất. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng trọng lượng chất có Heroine thu giữ trong vụ án là 638,252 gam. Theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC - TANDTC-BTP và Công văn số 315/TANDTC-PC ngày 11/12/2015 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã trưng cầu giám định hàm lượng các chất ma túy thu giữ được trong vụ án, sau khi quy đổi, xác định các chất ma túy mà bị cáo vận chuyển trái phép là 338,718 gam Heroine. Hành vi của Lê Minh Q đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điều khoản này để xử phạt bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của Lê Minh Q là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, góp phần làm gia tăng việc sử dụng ma túy trong cộng đồng, gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Hành vi đó cần phải xử phạt nghiêm khắc.
Xét kháng cáo, kháng nghị tăng, giảm hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Năm 2015, bị cáo đã phạm tội ít nghiêm trọng, chưa được xóa án tích lần này lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; tại cơ quan điều tra và các phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Để có cơ sở đánh giá tính chất hành vi phạm tội của bị cáo cũng như cân nhắc mức hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã trưng cầu giám định hàm lượng các chất ma túy thu giữ được. Trên cơ sở đó, xác định trọng lượng Hêrôin tinh chất mà bị cáo vận chuyển trái phép là 338,718 gam là đúng pháp luật. Với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, số lượng ma túy bị cáo vận chuyển, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Lê Minh Q tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút toàn bộ nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo. Gia đình bị cáo nộp chứng cứ xác định ông nội bị cáo là Thương binh và đã có công với đất nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999. Do đó, kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa cũng như đề nghị của ông Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo trong trường hợp này là không có căn cứ.
Do bị cáo rút kháng cáo nên theo quy định của pháp luật, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Từ nhận định trên, căn cứ Điều 348, 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Minh Q.
2. Không chấp nhận Kháng nghị số 04 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa; giữ nguyên quyết định về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Minh Q tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 06/02/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, cụ thể như sau:
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 34 Bộ luật hình sự 1999; xử phạt Lê Minh Q tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
3. Bị cáo Lê Minh Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 28/6/2018).
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - Vụ I TANDTC; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an tỉnh Thanh Hóa; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo (qua trại); - Lưu HS, PHC-TP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Minh Thu |