vanban.org

Bản án 431/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thanh N, cho chị Trương Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nhật Minh T1, sinh ngày 23/12/2019, cho chị Trương Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HNGĐST NHÀN- TRẦM"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thanh N, cho chị Trương Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 431/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 03-11-2021
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Bền

Bà Châu Bích Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Dũ- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 211/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Trương Thanh N, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: ấp Đ, xã KS, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

-Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1987 (vắng mặt);

Địa chi: ấp Đ, xã KS, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Chị và anh Nguyễn Quốc T sống chung với nhau vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Nghị, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 01/7/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12/2020 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cự cãi về việc chăm sóc con và nuôi con, vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hợp, tình cảm không còn. Từ tháng 01/2021 anh chị đã sống ly thân cho đến nay.

Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nhật Minh T1 (sinh ngày 23/12/2019) cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị N không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Nguyễn Quốc T: đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh T không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh T vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt nên bị đơn chưa thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án, đề nghị:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thanh N.

+ Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nhật Minh T1 (sinh ngày 23/12/2019) cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trương Thanh N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Quốc T nên đây là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh T có nơi cư trú tại ấp Đ, xã KS, huyện CT, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Chị N là nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn anh T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị N, anh T.

Về hôn nhân: Chị N và anh T chung sống trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Bình Nghị, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 01/7/2019 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống, giữa chị N và anh T xảy ra mâu thuẫn kéo dài không tự hàn gắn được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập để tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm giữa hai bên nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do, điều đó chứng tỏ anh T không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh với chị N.

Thấy rằng, giữa chị N và anh T không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật Minh T1, sinh ngày 23/12/2019. Hiện tại cháu T1 dưới 36 tháng tuổi và đang sống chung với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh T trong đó có nêu rõ yêu cầu về con chung của chị N, nhưng anh T không thể hiện ý kiến của mình đối với việc nuôi con chung.

Do anh T vắng mặt nên không có sự thỏa thuận với chị N về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu T1 nên cần thiết giao cháu cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu sau này chị N và anh T có tranh chấp về việc nuôi dưỡng con chung sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N trình bày anh chị không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thanh N, cho chị Trương Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nhật Minh T1, sinh ngày 23/12/2019, cho chị Trương Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trương Thanh N chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004163 ngày 05/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, nên chị N đã nộp xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, chị N, anh T được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ