vanban.org

Bản án 430/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 430/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 17/6/2022
V/v Tranh chấp Hôn nhân và
Gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hạnh

Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân

quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên toà:

Bà Bùi Thị Thùy Ninh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông,

xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 11/2022/TLST-

HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2022 về việc Ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 17/2022/QĐXX-ST ngày 26/5/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số:

39/2022/QĐHPT ngày 10/6/2022, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn : Chị Vũ Thị D, sinh năm 1992; HKTT: Nhà C23, khu

chung cư L, phường L, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Nhà 405 tòa

F1 ngõ 165 T, phường T, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Có mặt

-Bị đơn: Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1991; HKTT và chỗ ở: Nhà

C23, khu chung cư L, phường L, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,

nguyên đơn là chị Vũ Thị D trình bày:

Chị và anh Nguyễn Minh Đ kết hôn trên cơ cở tự nguyện có đăng ký kết

hôn vào ngày 18/9/2018 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận Hà Đông, thành

phố Hà Nội. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống với bố mẹ chồng tại địa

- 2 -

chỉ Nhà C23, khu chung cư L, phường L, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống mà không thể hòa giải được. Mâu thuẫn trầm trọng đến tháng 10 năm 2021 thì hai vợ chồng ly thân. Chị cùng con gái đã chuyển đi ở chỗ khác. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị D xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Vũ

Thùy D1 (nữ), sinh ngày 25/12/2019. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung. Chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị D xác nhận chị và anh Đ

không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị D xác nhận vợ chồng không nợ ai cũng như

không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị D đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Nguyễn Minh Đ không đến Tòa án làm việc, không cung cấp

lời khai, tài liệu về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và công nợ.

Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương và ghi ý kiến thân nhân anh Đ

thì được biết: Vợ chồng chị D, anh Đ có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn trầm trọng trọng đến tháng 7 năm 2021 thì hai vợ chồng ly thân. Anh chị có 01 con chung Nguyễn Vũ Thùy D1 (nữ), sinh ngày 25/12/2019. Hiện nay cháu D1 đang ở với chị D.

Tại phiên tòa, chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Đ. Anh Đ

vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu ý kiến : Trong

quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án ngày hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của

chị D đối với anh Đ. Về con chung: Xác nhận chị D vả anh Đ có 01 con chung là Nguyễn Vũ Thùy D1 (nữ), sinh ngày 25/12/2019. Giao chị D là người được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Vũ Thùy D1. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D xác nhận không có không đề nghị tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- 3 -

Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại

khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân

sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt không lý do. Vụ án

được tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng

dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Minh Đ kết hôn

trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận

Hà Đông, thành phố Hà Nội vào ngày 18/9/2018 là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng đã sống ly

thân từ tháng 7/2021. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ đã nhận được các văn

bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ

tố tụng của mình, cho thấy anh Đ không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ

chồng. Xét thấy tình trạng quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh Đ đã trầm trọng,

cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có

căn cứ chấp nhận cho chị D được ly hôn anh Đ và phù hợp với Điều 56 Luật

hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Minh Đ có 01 con chung

là Nguyễn Vũ Thùy D1 (nữ), sinh ngày 25/12/2019, hiện đang ở cùng chị D. Việc

giao cho chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp thực tế và phù

hợp quy định pháp luật. Chị D không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, do đó

tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ cho đến khi có sự thay đổi

khác.

Về tài sản chung: Chị D xác nhận không có tài sản chung và không

yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về công nợ chung: Chị D xác nhận không nợ ai cũng như không cho

ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình

sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông

phát biểu và đề xuất hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội

đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

quyÕt ®Þnh:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; Điều 147; khoản 3 Điều 228; Các Điều 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015.

- 4 -

- Căn cứ vào các Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân

và gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-

UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị D đối với anh Nguyễn

Minh Đ: Chị Vũ Thị D được ly hôn anh Nguyễn Minh Đ.

2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị D trực tiếp nuôi dưỡng con chung

là Nguyễn Vũ Thùy D1 (nữ), sinh ngày 25/12/2019. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Minh Đ cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về công nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem

xét.

5. Về án phí: Chị Vũ Thị D phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và

gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0009617 ngày 05/01/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị D, vắng mặt anh Đ. Chị D có quyền

kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi anh Đ nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ