vanban.org

Bản án 430/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 10/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Trần Phi Hùng: ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/5/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 430/2021/HSST
Ngày: 10/9/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH – TỈNH TH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Đức

2. Bà Ngô Thị Thúy

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - cán bộ toà án nhân dân TP TH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TH tham gia phiên toà:

Bà Thái Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 09 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TH xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 437/2021/HSST 13/8/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 470/2021/QĐXXST - HS ngày 25/8/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T. Sinh ngày 02/01/1972, tại TH.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

- Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 04, phường Túc Duyên, thành phố TH, tỉnh TH.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền trước khi bị bắt): Không; Con ông: Trần Đình Thiềng, sinh năm 1937 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thuý Hạ, sinh năm 1939; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư; Vợ thứ nhất: Dương Thị Nhung, sinh năm 1975 (Đã ly hôn);Vợ thứ hai: Hoàng Thị Hường, sinh năm 1974; Có 03 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2014.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại Bản án số 184/HSST ngày 19/8/2003, Toà án nhân dân tỉnh TH xử phạt 07 năm tù, về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong bản án ngày 07/12/2008. Chấp hành xong phần án phí + tiền phạt 04/6/2008

+ Tại Bản án số 181/HSST ngày 16/5/2017, Toà án nhân dân thành phố TH xử phạt 30 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong bản án ngày 30/01/2019. Chấp hành xong phần án phí ngày 04/7/2017.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97/XPVPHS ngày 22/4/2013, Công an phường Túc Duyên, thành phố TH xử phạt số tiền 1.250.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TH (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2021). Có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Ngọc Long, sinh năm 1979; Địa chỉ : Xóm Trại, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, TP Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Ngƣời chứng kiến :

1. Anh Sái Quốc Vinh, sinh năm 1971(Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đồng Tâm, P. Đồng Bẩm, TP. TH.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 03/6/2021, tổ công tác của Công an phường Đồng Bẩm, thành phố TH làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường. Khi tổ công tác đi đến khu vực tổ dân phố Đồng Tâm của phường thì phát hiện 01 người đàn ông điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát: 29H8 – 2613 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Trần Văn T. Quá trình kiểm tra, T khai nhận có cất giấu ma tuý trên người và tự giác giao nộp 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng từ trong lòng bàn tay phải của T (theo T khai là Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 29H8 - 2613.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH đã cân số chất bột màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,124 gam. Lấy 0,067 gam số chất bột màu trắng trên đưa vào trong bì niêm phong kín ký hiệu T1 để gửi giám định. Còn lại 0,057 gam chất bột màu trắng cho vào bì niêm phong kí hiệu T2 lưu kho vật chứng.

Tại Bản kết luận giám định số 956/KL- KTHS ngày 11/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,124 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T khai nhận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 03/6/2021, T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29H8 – 2613 từ nhà tại tổ 04, phường Túc Duyên đến khu vực tổ dân phố Đồng Tâm, phường Đồng Bẩm, thành phố TH để tìm mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Tại đây, T đã gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói Heroine được gói trong giấy bạc màu vàng, bên trong có chất bột màu trắng với giá 100.000 đồng. Mua xong, T cầm gói Heroine ở lòng bàn tay phải để đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an phường Đồng Bẩm kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 gói ma tuý và 01 xe mô tô. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của Trần Văn T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2; 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát: 29H8-2613, số khung: BE42B-VN108- 377, số máy: VN108-377, xe đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên Bùi Thanh Thuỷ, địa chỉ: 307 Nhà B TT31 phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đăng ký mới ngày 13/10/1998. Anh Hoàng Ngọc Long khai đã mua lại chiếc xe trên từ cửa hàng xe máy cũ. Quá trình điều tra không xác định được chủ đăng ký xe mô tô đang ở đâu. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 449 /CT-VKSTPTN, ngày 12/8/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, tỉnh TH đã truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .

Kết thúc phần xét hỏi, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TH giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy : 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa chất ma tuý.

- Chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát: 29H8-2613, số khung: BE42B-VN108-377, số máy: VN108-377, xe đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên Bùi Thanh Thuỷ, địa chỉ: 307 Nhà B TT31 phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đăng ký mới ngày 13/10/1998. Anh Hoàng Ngọc Long khai đã mua lại chiếc xe trên từ cửa hàng xe máy cũ. Quá trình điều tra không xác định được chủ đăng ký xe mô tô đang ở đâu. Anh Long xác định T mượn xe của anh nhưng anh không biết T sử dụng vào việc đi mua ma tuý, cần trả lại chiếc xe trên cho anh Long quản lý sử dụng

Về án phí: Áp dụng Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn T tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy, Hồi 09 giờ 45 phút ngày 03/6/2021, tại khu vực tổ dân phố Đồng Tâm, phường Đồng Bẩm, thành phố TH, Trần Văn T có hành vi tàng trữ 0,124 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường Đồng Bẩm, thành phố TH phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của nêu trên của Trần Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

TTộộii pphhạạmm vvàà hhììnnhh pphhạạtt ccủủaa TTrrầầnn VVăănn TT được quy định tạiđ

đđiiểểmm cc,, kkhhooảảnn 11 ĐĐiiềềuu 224499 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự..

NNộộii dduunngg đđiiềềuu lluuậậtt qquuyy đđịịnnhh nnhhưư ssaauu::

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, Heroine.......có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam”.

4] . Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma túy là mặt hàng cấm do Nhà nước độc quyền quản lý, song do nghiện ma túy, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân rất xấu, đã từng bị Toà án xét xử về các tội liên quan đến ma tuý, tuy được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi của mình nên hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện lượng khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và cần được chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì giá trị, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa ma tuý

- Về chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát: 29H8-2613, số khung: BE42B-VN108-377, số máy: VN108-377, xe đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên Bùi Thanh Thuỷ, địa chỉ: 307 Nhà B TT31 phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đăng ký mới ngày 13/10/1998. Anh Hoàng Ngọc Long khai đã mua lại chiếc xe trên từ cửa hàng xe máy cũ với giá 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được chủ đăng ký xe mô tô đang ở đâu. Anh Long xác định T mượn xe của anh nhưng anh không biết T sử dụng vào việc đi mua ma tuý, anh có đơn đề nghị được trả lại chiếc xe trên , do vậy cần trả lại chiếc xe trên cho anh Long quản lý sử dụng là phù hợp.

. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Trần Văn T khai mua của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) vào ngày 03/6/2021, tại khu vực tổ dân phố Đồng Tâm, phường Đồng Bẩm, thành phố TH. Do không xác định được người bán ma tuý cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH không có cơ sở điều tra làm rõ, xử lý.

Đối với anh Hoàng Ngọc Long là người đã mua lại chiếc xe mô tô biển kiểm sát 20H8 – 2613 tại một cửa hãng xe máy cũ. Quá trình sử dụng anh Long cho T mượn chiếc xe mô tô trên, anh Long không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma tuý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH không xử lý là có căn cứ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T : 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù giam. TThhờờii hhạạnn cchhấấpp hhàànnhh hhììnnhh pphhạạtt ttùù ttíínnhh ttừừ nnggààyy 0033//0066//22002211.. KKhhôônngg áápp ddụụnngg hhììnnhh pphhạạtt bbổổ ssuunngg đđốốii vvớớii bbịị ccááoo

ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 332299 BBLLTTTTHHSS QQuuyyếếtt đđịịnnhh ttạạmm ggiiaamm bbịị ccááoo 4455 nnggààyy,, kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn đđểể đđảảmm bbảảoo tthhii hhàànnhh áánn..

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: T1, có ghi hoàn trả 0,057 gam mẫu T1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu T1 vụ Trần Văn T, sinh năm 1972, Phạm tội về ma túy, mặt sau có 02 dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh TH và 02chữ ký của Vũ Quang Huy và Trương Đăng Tam.

- 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: T2, có ghi hoàn trả 0,057 gam chất bột màu trắng lưu kho, mặt sau có 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an TP TH và 07chữ ký của Phạm Quang Tuấn, Bùi Tuấn Anh, Trần Thị Quỳnh Anh, Sái Quốc Vinh, Trần Văn T, Ma Đình Trường.

- 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát: 29H8 - 2613, màu sơn: Xanh; Nhãn hiệu: SUZUKI; Số loại: ; Dung tích xi lanh: 110; Loại xe: Hai bánh từ 50 -175cm3; Số máy: VN108-377; Số khung: BE42B – VN108-377. Tình trạng xe: Đã qua sử dụng, xe không gương.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 553 ngày 11/8/2021)

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Sở Tư pháp TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Anh Thƣ Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

-VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Sở Tư pháp TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Anh Thƣ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thƣ Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

-VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Sở Tư pháp TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Anh Thƣ Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

-VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Sở Tư pháp TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Anh Thƣ TAND TP. TH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH TH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TH, ngày 21 tháng 02 năm 2019

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi……. giờ…..ngày 21 tháng 02 năm 2019

Tại: Phòng nghị án – Tòa án nhân dân thành phố TH

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện

2. Bà Trần Kim Liên

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2019/TLST - HS ngày 15 tháng 01 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Vũ Văn Tuấn, sinh ngày 27 tháng 03 năm 1973.

Tên gọi khác: Không

Nơi đăng ký NKTT: Tổ 12, phường Quan Triều, TP TH, tỉnh TH.

Căn cứ các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Tuấn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Kết quả biểu quyết 3/3.

2. Về điều luật áp dụng :: Căn cứ

điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự

Kết quả biểu quyết 3/3.

3.Về mức hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Tuấn: 36 ( Ba mươi sáu ) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/10/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 332299 BBLLTTTTHHSS QQuuyyếếtt đđịịnnhh ttạạmm ggiiaamm bbịị ccááoo 4455 nnggààyy,, kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn đđểể đđảảmm bbảảoo tthhii hhàànnhh áánn..

Kết quả biểu quyết 3/3.

4. Về các vấn đề khác:

** VVềề xxửử llýý vvậậtt cchhứứnngg:: ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 4477 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự;; ĐĐiiềềuu 110066 BBộộ lluuậậtt TTốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự nnăămm 22001155::

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu T (Bì niêm phong chứa chất ma túy).

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 95 ngày 04/01/2019).

** VVềề áánn pphhíí:: ÁÁpp ddụụnngg kkhhooảảnn 22 ĐĐiiềềuu 113366 BBộộ lluuậậtt ttốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự;; NNgghhịị qquuyyếếtt 332266//22001166//UUBBTTVVQQHH nnggààyy 3300//1122//22001166,, bbuuộộcc bbịị ccááoo pphhảảii nnộộpp 220000..000000 đđồồnngg ((HHaaii ttrrăămm nngghhììnn đđồồnngg)) áánn pphhíí hhììnnhh ssựự ssơơ tthhẩẩmm vvààoo nnggâânn ssáácchh nnhhàà nnưướớcc..

** VVềề qquuyyềềnn kkhháánngg ccááoo:: BBịị ccááoo ccóó mmặặtt ttạạii pphhiiêênn ttooàà ccóó qquuyyềềnn kkhháánngg ccááoo bbảảnn áánn ttrroonngg tthhờờii hhạạnn mmưườờii llăămm nnggààyy kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn..

Kết quả biểu quyết 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi........giờ...... phút, ngày 21 tháng 02 năm 2019

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thƣ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thƣ Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

-VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Sở Tư pháp TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đặng Minh Tuân

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Đặng Minh Tuân Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

-VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Sở Tư pháp TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đặng Minh Tuân

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Đặng Minh Tuân Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

-VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đặng Minh Tuân

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Đặng Minh Tuân

toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên , phù hợp với lời khai

của đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự , ngườ i làm chứ ng , vâ ̣t chứ ng thu giữ. (BL: 14-40)

Vâ ̣t chứ ng của vu ̣ án là: 01 cánh cổng khung sắt mạ kẽm có kích thước 2 x 3m, bên trong hàn lướ i sắt B40; 01 bó lưới sắt B40 có chiều dài 3m.

Tại bản kết luận số 158/HĐĐGTS, ngày 29 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng đi ̣nh giá tài sản trong tố t ụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận : Tổng giá trị tài sản trên là 442.500đ. Hiê ̣n Cơ quan điều tra đa trã ̉ la ̣i cho ông Nguyễn Văn Phương đa ̣i diê ̣n công ty CP Trung Tin quản lý , sử du ̣ng, ông Phương không có

́

yêu cầu đề nghi ̣ gì.

Tuy tài sản do Trần Phi Hùng trô ̣m cắp có giá tri ̣ dướ i 2 triê ̣u đồng nhưng trướ c đó Hùng đa bi ̣̃ xử pha ̣t hành chinh về hành vi chiếm đoa ̣t tài sản nên hành

́

vi nêu trên của Trần Phi Hùng đa cẫ ́u thành tô ̣i pha ̣m hinh sự.

̀

Bản cáo trạng số 314/KSĐT - KT, ngày 14/7/2014 của VKSND thành phố TH truy tố Trần Phi Hùng về tội “Trộm cắp tài sản “ theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự đối xử phạt Trần Phi Hùng từ

đến tháng tù giam.

Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2014.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác..

XÉT THẤY

Khoảng 5 giờ 30 phút, ngày 13/5/2014, tại công trườ ng xây dựng của Công

ty cổ phần Trung Tin thuô ̣c tổ 9, phườ ng Trưng Vương, TPTN. Trần Phi Hùng là

́ đối tượng nghiện ma túy , đa bi ̣̃ xử pha ̣t hành chinh về hành vi chiếm đoa ̣t tài sản

́

đa thự̃

c hiê ̣n hành vi trô ̣m cắp của Công ty cổ phần Trung Tin 01 cánh cổng khung

́ sắt ma ̣ kem cõ

́ kich thướ c 2 x 3m, bên trong hàn lướ i B 40 và 01 bó lưới sắt B40

́ dài 3m, tổng tri ̣ giá là 442.000đ. Khi Hùng đang mang tài sản trô ̣m cắp đi tiêu thu ̣ thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng . Hiê ̣n tài sản đa đượ̃

c thu hồi trả cho công ty cổ phần Trung Tin quản lý, sử du ̣ng.

́

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS là thành khẩn khai báo bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào tại Điều 48 Bộ luật hình sự.

Mứ c án đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghi ̣ ta ̣i

phiên tòa đối vớ i bi ̣ cáo là phù hợp, được Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n.

Về trách nhiệm dân sự:

Toàn bộ tài sản do Hùng trộm cắp đã được thu hồi trả lại Công ty cổ phần Trung Tin, đa ̣i diê ̣n là anh Nguyễn Văn Phương , anh Phương không có đề nghi ̣ gi

́

̀ khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự,

- Xử phạt Trần Phi Hùng:

(

) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/5/2014.

Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng Hình sự: Quyết định tạm giam Trần Phi Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự. Pháp lệnh số 10/2009/PL - UBTNQH12 về án phí, lệ phí Tòa án: buộc Trần Phi Hùng phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đa ̣i diê ̣n Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án. Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán– Chủ tọa phiên tòa

Đặng Minh Tuân

Cỡ chữ