- Tranh chấp gì? "Vụ án Hình sự Thụ lý số 37/2021/TLST-HS ngày 23/6/2021 An Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"ma túy" - phạm tội mua bán trái phép…"
- Tòa quyết gì? luật H ình sự năm 2015 .
- Căn cứ chính? Điều 2 Bộ luật H ình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng H ình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng H ình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 43/2021/HS -ST Ngµy: 22-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG HO
À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Bà Trịnh Thanh H ương.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đoàn Thân và bà Nguyễn Thị Chung .
- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Ngọc Nhạn
- Thư k ý Tòa án, Toà án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: bà Trần Thị Th êm - Kiểm sát vi ên.
Ngày 22tháng 7 năm 2021 tại Hội tr ư ờng xét xử T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2021/HSST ngày 23/6/2021, theo quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số 38/2021/QĐXXST - HS ngày 07/7/2021 đối với bị cáo:
An VănT; sinh năm 1986; tại xã H, huyện H, tỉnh T; trú tại: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh T; nghềnghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá : lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N am; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
An Thanh V và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ là Bùi Thị Đ và chưa có con.
Tiền sự: không.
Tiền án: Tại bản án h ình sự s ơ th ẩm số 72/2005/HS -ST ngày 30/11/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh B ình đã xử phạt bị cáo 09 năm t ù về tội “Cư ớp giật t ài sản” v à phạt bổ sung 15 triệu đồng, buộc bồi th
ư ờng cho bị hại
15.411.000 đồng. Bị cáo chấp h ành xong hình phạt t ùngày 25/6/2014 nhưng chưa ch ấp h ành hình phạt bổ sung v à bồi th ư ờng dân sự.
Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ng
ày 13/01/2021 đến ng ày 19/01/2021chuyển tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phi ên toà.
Ngư ời l àm chứng :- Anh Đinh Văn T; sinh năm: 1993; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyệ n T, tỉnh T ,vắng mặt .
- Anh Bùi Bình P; sinh năm: 1991; nơi cư trú:
thôn N, xã T, huyện T, tỉnh T,vắng mặt .
- Anh An Quốc L ; sinh năm: 1983; nơi cư trú:
thôn H, xã H, huyện H , tỉnh T,vắng mặt .
- Anh An Văn T; sinh năm: 1978; nơi cư trú:
thôn Đ, xã H, huyện H , tỉnh T,vắng mặt .
- Chị Nguyễn Thị H; sinh năm: 1954; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H , tỉnh T,vắng mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt nh ư sau:
Vào 10 giờ 00 phút , ngày 13 tháng 01 năm 2021, Công an huyện H à Trung phối hợp với Công an x
ã Hà Long, huyện H à Trung làm nhiệm vụ kiểm soát an ninh trật tự tại Chợ Đền, thuộc thôn Gia Mi
êu, xã Hà Long, huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện B ùi Bình P và Đinh Văn T có biểu hiện nghi vấn, tiến h ành kiểm tra , thu giữ ở túi áo khoác b ên phải P đang mặc 02 (hai) gói giấy nhỏ có chữ viết, kiểm tra 02 gói giấy thấy b
ên trong chứa chất bột m
àu trắng ng à dạng cục vụn nghi là ma túy, đư ợc ni êm phong ký hiệu “vụ B ùi Bình P”; thu giữ ở túi áo khoác bên trái T đang mặc 01 (một) gói giấy có chữ viết, kiểm tra thấy b
ên trong có chứa chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn nghi l
à ma túy, đư ợc ni êm phong ký hiệu “vụ Đinh Văn T”. Ngay tại chỗ cả P
và T đều khai nhận 03 gói giấy Công an vừ
a thu giữ tr ên là ma túy, P và T vừa mua của An Văn T , sinh năm 1986 ở thôn Đ, xã H, huyện H , T.
Thông qua lời khai của Bùi Bình P và Đinh Văn T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơ i ở của An Văn T ở thôn Đ, xã H, huyệ n H, tỉnh T,thu giữ trong ví của T để ở gi ư ờng ph òng ngủ số tiền 300.000 đồng v à thu giữ ở gầ
m giư ờn g ngủ của T 03 (ba) gói nhỏ bên ngoài mỗi gói đều đ ư ợc bọc bằng giấy có chữ viết, b
ên trong mỗi gói đều chứa chất bột m
àu trắng ngà dạng cục vụn nghi l
à ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:
01 (một) tờ tiền mệnh giá 200.000.000
đ(hai trăm nghìn đồng), có số seri HY18744423 v à 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) có số seri NA13456924; 03 (ba) gói nhỏ b ên ngoài mỗi gói đ ư ợc bọc bằng giấy có chữ viết, b
ên trong mỗi gói đều chứa chất bột m
àu trắng ng à dạng cục vụn nghi l à ma túy, đư ợc ni êm phong ký kiệu “vụ An Văn T ”; 02 gói giấy b ên trong chứa chất bột m
àu trắng ng à dạng cục vụn ngh
i là ma túy, đư ợc ni êm phong ký hiệu “vụ B ùi Bình P”; 01 (một) gói giấy có chữ viết b
ên trong chứa chất bột m
àu trắng ngà dạng cục vụn nghi l
à ma túy, đư ợc ni êm phong ký hiệu “vụ Đinh Văn T ”.
Tại bản kết luận giám định số:
380/PC09 ngày 18/01/2021 của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:
- Chấ t bộ t màu trắng ng à dạ ng cụ c vụ n củ a phong bì niêm phong mặ t trư ớ c có dòng chữ ''vụ Bùi Bình P” gử i giám đị nh là ma túy, có tổ ng khố i lư ợ ng 0,007 g (không phẩy không không bả y gam) loạ i: Heroine;
- Chấ t bộ t màu trắ ng ngà dạ ng cụ c vụ n củ a phong bì niêm phong mặ t trư ớ c có dòng chữ “vụ Đ inh Văn T” gử i giám đị nh là ma túy, có tổ ng khố i lư ợ ng 0,005 g (không phẩy không không n ăm gam) loạ i: Heroine;
- Chấ t bộ t màu trắng ngà dạ ng cụ c vụ n củ a phong bì niêm phong mặ t trư ớ c có dòng chữ “vụ An Văn T” gử i giám đị nh là ma túy, có tổ ng khố i lư ợ ng 0,053g (không phẩ y không năm ba gam) loạ i: Heroine.
Quá trình điều tra An Văn T khai nhận: Ngày 10 tháng 01 năm 2021,T đi xuống thị trấn H , huyện H, tỉnh T mua 01 túi ma túy với giá 1.750.000đ (Một triệu bảy tr ăm năm mươ i nghìn đồng) của một nam thanh ni ên không biết t ên và địa chỉ. Mua xong, T về chia ma túy thành các gói nhỏ bọc b ằ ng giấy có chữ viết
để sử dụng dầ n và bán kiếm lờ i. Chiều ngày 12 tháng 01 năm 2021 T bán cho Bùi Bình P, sinh năm 1991 ở thôn N, xã T, huyện T , tỉnh T một gói ma tú y vớigiá100.000 đ(Một tr ăm nghìn đồng) và bán cho một ng ư ời đ àn ông có tên là L 01 gói ma túy với giá 100.000đ (Một trăm ngh ìn đồng) , số tiền bán ma túy bị cáo đ ã tiêu xài cá nhân hết . Đến khoảng 09 giờ 30 phút , ngày 13 tháng 01 năm 2021 khi T đang ở nh à tại thôn Đ, xã H, huyện H thì có Bùi Bình P đi cùng với Đinh Văn T, sinh năm 1993 ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh T đến gặp T ở sau v ư ờn. Tại đây, P bảo T bán cho hai gói ma túy, T đồng ý rồi cầm 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) của P đư a. Đinh Văn T đang đứng ngay b ên cạnh P thấy vậy cũng lấy ra 100.000 đ (Một tr ăm nghìn đồng) nhờ P đư a cho T để mua ma túy th ì T đồng ý v à cầm tiền. T lấy trong túi ra 03 (ba) gói ma túy đư a cho P. Sau khi mua đư ợc ma túy P và T đi về, khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo bị công an khám xét nơi ở v à thu giữ số tiền 300.000 đồng
và 03 gói nhỏ nghi là ma túy dư ới gầm gi ư ờng ngủ .
Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 22/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đ ã truy tố bị cáo về tội “
Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b,c, q khoản 2, Điều 2 51 Bộ luật H ình sự năm 2015.
Tại phi ên tòa,bị cáo thừa nhận h ành vi như cáo tr ạng đ ã truy tố. Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân huyện H à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng điểm b, c, q khoản 2, Điều 2 51; Điều 38; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ
09 năm 06 tháng tù đến 10 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA T
ÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh
ư sau:
[1]. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về h
ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến h ành tố tụng v à cơ quan ti ến h ành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến h ành tố tụng, c ơ quan ti ến h ành tố tụng đ ã thực hi ện đúng với tr ình tự, thủ tục, thẩm quyền v
à hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng h
ình sự.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phi
ên toà phù hợp với lời khai của
bị cáo ở giai đoạn điều tra, ph ù hợp với lời khai của ng
ư ời l àm chứng, ph ù hợp với vật chứng thu giữ đ ư ợc v à bản kết luận giám định
, đủ c ơ s ở khẳng định :Ngày 12/01/2021, An Văn Th đã bán trái phép chất ma túy cho B ùi Bình P lấy 100.000 đồng ; ngày 13/01/2021, An Văn T đã bán trái phép chất ma tuý cho Bùi Bình P và Đinh Văn T với khối l ư ợng thu giữ đ ư ợc l à 0,012g (không phẩy không một hai gam) loại Heroin. Như vậy ,bị cáo đã bán ma túy hai lần ,trong đó có một lần bán cho hai ngư ời. N goài ra, bị cáo còn là đối t ư ợng đ ã bị kết án về tội rất nghi êm trọng: Tại bản án h ình sự sơ th ẩm số 72/2005/HS -ST ngày 30/11/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh B ình đã xử phạt bị cáo 09 năm t ù về tội “C ư ớp giật t ài sản” v à phạt bổ sung15 triệu đồng, buộc bồi th ư ờng cho bị hại 15.411.000 đồng. Bị cáo chấp h
ành xong hình phạt t ù ngày 25/6/2014 nhưng chưa ch ấp h ành hình phạt bổ sung v à bồi thư ờng dân sự, chưa đư ợc xóa án tích lại thực hiện h
ành vi phạm tội về tội rất nghi
êm trọng nên lần phạm tội n ày của bị cáo thuộc tr ư ờng hợp “tái phạm nguy hiểm
”.Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Trung truy tố bị cáo về tội “
Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c, q khoản 2, Điều 2 51 Bộ luật H ình sự năm 2015 l à đúng ngư ời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi củabị cáo l à rất nguy hiểm cho x ã hội, xâm phạm đến chế độ độc
quyền quản lý của Nh à nư ớc về các chất ma tuý. Đây l à chất gây nghiện có tác hại rất lớn v à ảnh h ư ởng xấu tới sức khoẻ con ng
ư ời, l à một trong những nguy ên nhân chính gây ra các loại tội phạm v à tệ nạn x ã hội khác. Vì vậy , phải cách ly khỏi đời sống x ã hội trong mộ t thời gian để cải tạo, giáo dục
bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đ ã thành khẩn khai báo, đây l à tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật h
ình sự năm 2015 .
Trong vụ án này, Bùi Bình P và Đinh Văn T tàng trữ trái phép chấ t ma túy với khố i lư ợ ng dư ới 0,1 gam . P và T chưa bị kết án, chưa bị xử phạ t hành chính liên quan đến các tội về ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với P và Tám về hành vi “Tàng trữ trái phép chấ t ma túy”là đúng quy định .
Đố i vớ i ngư ờ i nam thanh niên bán ma tuý cho An Văn T, do T không rõ đặ c điể m và không biế t tên, tuổ i, đị a chỉ cụ t hể củ a ngư ờ i này nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án. Đối với An Quốc L, L không thừa nhận việc mua ma túy của Thuận , quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã xác định đ ư ợc ngo ài lời khai của Thuận , không còn tài liệu, chứng cứ
nào chứng minh việc L mua ma túy của T nên không có căn cứ để xử lý đối với L.
[3]. Về vật chứng:
Số ma túy c ơ quan đi ều tra thu giữ đ ư ợc của P và T còn lại sau giám định l à vật cấm t àng trữ, l ưu hành nên ph ải tịch thu ti êu huỷ. Đối với 03 gói ma túy cơ quan c ản h sát điều tra công an huyện H à Trung thu giữ tại gầm giư ờng ngủ của An V
ăn T, bị cáo khai không biết của ai, tuy nhi ên đây là vật cấm tàng trữ, l ưu hành nên c ũng phải tịch thu ti êu hủy. Số tiền 300.000 đồng l
à tiền do bị cáo phạm tội m à có nên phải tịch thu nộp ngân sách Nh à nư ớc .Số tiền 100.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Bùi Bình P ngày 12/01/2021 là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên phải truy thu nộp ngân sách nh à nư ớc.
[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b, c, q, khoản 2, Điều 2 51; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51Bộ
luật H ình sự năm 2015 .
1. Về tội danh: Bị cáo An Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Về h ình phạt: Xử phạt bị cáo
An Văn T 09(chín)năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp h ành hình phạt tù tính từ n gày bị cáo bị tạm giữ l
à ngày 13/01/2021.
3. Về vật chứng: Căn cứ
điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng H
ình sự.
Tịch thu ti êu huỷ: Số ma túy c ơ quan đi ều tra thu giữ đ ư ợc c òn lại sau giám định đư ợc đựng trong phong b ì do Phòng kỹ thuật h ình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành đư ợc dán kín, ni êm phong(Đặc điểm của phong b ì niêm phong theo biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày21/7/2021).
Tịch thu nộp ngân sách nh à nư ớc số tiền 300.000 đồng l
à tiền do bị cáo phạm tội m à có.
Truy thu nộp ngân sách nh à nư ớc số tiền 100.000 đồng l
à tiền do bị cáo phạm tội m à có.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng H
ình sự; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng
ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo An Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự s ơ th ẩm .
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ng ày tuyên án.
Trư ờng hợp bản án đ
ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật Thi h ành án Dân sự th ì ngư ời đ ư ợc thi h ành án dân sự, ng ư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 v à 9 Luật Thi h ành án Dân sự; thời hiệu thi hành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h
ành án Dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện H à Trung; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện H à Trung; - Bị cáo; - Lưu h ồ s ơ v ụ án. HỘI ĐỒNG XÉT Các hội thẩm nhân dân Đoàn Thân Nguyễn Thị Chung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà Trịnh Thanh H ương XỬ S Ơ TH ẨM Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà Trịnh Thanh H ương |