vanban.org

Bản án 43/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo A T phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma t y .

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo A T 38 (ba mƣơi tám) tháng tù, th i hạn tù t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 31 tháng 10 năm 2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "A TH - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo A T phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma t y .
  • Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2026/HS-ST
Ngày: 27/3/2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Nghiên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiệp bà Y B Lư

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

A T; Sinh ngày 17 tháng 8 năm 2007; Nơi sinh: tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn K, xã N, tỉnh Quảng Ngãi; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ba Na; iới t nh: Nam; Tôn giáo: Công iáo; Căn cước công dân số 062207006485 do Cục Cảnh sát quản lý hành ch nh về trật tự xã hội cấp ngày 24/01/2024; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: A B, sinh năm: 1962 và bà Y H, Sinh năm: 1967 (Đã chết); Vợ: Không;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo A T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Q (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông A B; Sinh năm 1962;

Nơi cư trú: Thôn K, xã N, tỉnh Quảng Ngãi (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8/2025, trong lúc uống rượu với bạn tại xã N, tỉnh Quảng Ngãi thì bị cáo A T được A T1 sinh n m

; tr t i thôn K, xã N, Quảng Ngãi) nói cho biết nếu muốn mua ma túy c đến trước c ng Trạm y tế V s có ngư i đến h i bán . Đến khoảng 13 gi 00 phút ngày 31/10/2025, A T có nhu c u sử dụng ma tuý nên đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 82B1-774.08 đi từ nhà tại thôn K, xã N, tỉnh Quảng Ngãi đến trước c ng Trạm y tế V (c ) thuộc xã N, tỉnh Quảng Ngãi đ ng ch . Một lúc sau, có một thanh niên hông r nhân thân, lai l ch đến và h i A T mày muốn lấy hả? ; A T trả l i đúng rồi ; ngư i này h i A T lấy bao nhiêu ; A T nói lấy 250.000 đồng (hai tr m n m mươi ngàn đồng ; ngư i thanh niên nói A T ch một tý rồi b đi. Khoảng 20 phút sau, ngư i thanh niên quay lại; A T lấy số tiền 250.000 đồng hai tr m ngàn đồng đưa cho ngư i thanh niên; ngư i thanh niên lấy 01 (một) túi ni lông màu trắng dán k n, bên trong có ch a chất tinh thể rắn màu trắng đưa cho A T rồi b đi; A T cất gói ma tuý vào túi trong của áo khoác màu đen đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi về đến đư ng P thuộc phư ng Đ, tỉnh Quảng Ngãi thì T công tác của Công an phư ng Đ, tỉnh Quảng Ngãi phát hiện, bắt quả tang và thu giữ các vật ch ng có liên quan. Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể của A T, kết quả A T dương t nh với ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số: 1545/KL-KTHS ngày 06/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: M u ch t r n tinh th màu tr ng được đ ng trong t i niêm phong mã s

7 97 g i giám đ nh là ma t y, lo i Methamphetamine, có h i lượng đã trừ bì là 2,01 gam.

Tại Kết luận giám định số: 1551/KL-KTHS ngày 14/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: M u nước ti u ghi thu của A T có tìm th y ch t ma tuý, lo i Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKSKV7 ngày 25/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo A T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo A T về tội Tàng trữ trái phép ch t ma t y và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo A T từ 38 đến 42 tháng tù, th i hạn tù t nh từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo. Không đề nghị áp dụng hình phạt b sung cho bị cáo.

Về xử lý vật ch ng: Căn c Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 1,89 gam ma túy hoàn lại sau giám định, loại Methamphetamine; Trả lại cho chủ sở hữu ông A B chiếc xe mô tô kiểm soát 82B1-774.08.

Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph theo quy định của pháp luật.

Ý kiến tranh luận của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo không nói l i nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục t tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, ngư i tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi ph m tội của b cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo A T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu l i khai nhận tội của bị cáo, kết quả giám định và các tài liệu ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 13 gi 30 phút ngày 31/10/2025, do có nhu c u sử dụng ma túy, bị cáo A T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 82B1-774.08 đến trước c ng Trạm y tế V (c ) thuộc xã N, tỉnh Quảng Ngãi mua một ngư i thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 (một) gói ma túy với số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng). Đến khoảng 14 gi 30 phút cùng ngày A T điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đư ng P thuộc phư ng Đ, tỉnh Quảng Ngãi thì bị lực lượng Công an phư ng Đ kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác của A T có một túi ni lông màu trắng được dán k n, bên trong có ch a chất tinh thể rắn màu trắng.

Kết quả giám định: M u chất rắn tinh thể màu trắng được đựng trong túi niêm phong mã số PS3 24273197 thu giữ của bị cáo A T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng đã trừ bì là 2,01 gam.

Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo A T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép ch t ma t y theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 truy tố bị cáo là có căn c , đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính ch t, mức độ nghiêm trọng của hành vi ph m tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm Luật phòng chống ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận th c được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật cấm nhưng v n cố ý thực hiện, thể hiện t nh xem thư ng pháp luật. Vì vậy, HĐXX, c n phải xét xử nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra kh i đ i sống xã hội một th i gian nhất định để nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ch cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s đ i với b cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình s : Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s : Trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự c n cho bị cáo được hưởng.

Về hình ph t bổ sung: Bị cáo hiện không có thu nhập n định nên không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3 2011643, bên ngoài túi niêm phong có các chữ ký ghi tên của những ngư i tham gia niêm phong và hình dấu tròn màu đ có nội dung *PHÒN K*CÔN AN TỈNH QUẢN N ÃI tại mép dán. Bên trong túi niêm phong có ch a: V bao gói gửi giám định và m u vật sau khi sử dụng một ph n trong quá trình giám định còn lại (M ch t r n tinh th màu tr ng được đ ng trong t i niêm phong mã s

7 97 g i giám đ nh còn l i được đ ng trong

một t i ni lông, có h i lượng đã trừ bì là: 1,89 gam), là vật Nhà nước cấm lưu hành nên c n tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát 82B1-774.08, chủ sở hữu là ông A B. Ngày 31/10/2025, A T tự ý lấy xe mô tô sử dụng và làm phương tiện đi mua ma tuý. Qua quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa cho thấy việc A T sử dụng xe mô tô đi mua ma tuý thì ông A B không biết. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp ông A B là phù hợp.

Về các tình tiết hác trong vụ án:

Đối với ngư i thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo A T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã tiến hành xác minh tại Công an xã N, tỉnh Quảng Ngãi nhưng không xác định được đối tượng bán ma tuy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q tiếp tục xác minh khi xác định được đối tượng s xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo A T: Quá trình điều tra, bị cáo A T khai nhận, tối ngày 30/10/2025, do có nhu c u sử dụng ma túy, bị cáo đến một điểm thu mua m cao su thuộc xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi tìm gặp ngư i thanh niên tên T2 hông r nhân thân, lai l ch mua 01 (một) gói ma túy với giá 200.000 đồng Hai tr m ngàn đồng . Sau khi mua được ma túy, A T c m gói ma túy và bộ D dùng sử dụng trái phép chất ma túy đã chuẩn bị trước đến lô cao su của Nông trư ng tại xã N, tỉnh Quảng Ngãi sử dụng hết và v t bộ dụng tại đây. Như vậy, ngoài hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy , bị cáo A T còn có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và không thuộc trư ng hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Ngày 26/01/2026, Công an phư ng Đ, tỉnh Quảng Ngãi đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh số 05/QĐ-XPHC đối với A T về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, bằng hình th c phạt tiền với m c phạt 1.500.000 đồng một triệu n m tr m ngàn đồng là có căn c và đúng quy định của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo A T phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma t y .

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đ i, b sung năm 2017; sửa đ i, b sung năm 2025; Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đ i, b sung một số điều của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo A T 38 (ba mƣơi tám) tháng tù, th i hạn tù t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 31 tháng 10 năm 2025.

3. Về xử lý vật chứng: Căn c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3 2011643, bên ngoài túi niêm phong có các chữ ký ghi tên của những ngư i tham gia niêm phong và hình dấu tròn màu đ có nội dung *PHÒN K*CÔN AN TỈNH QUẢN N ÃI tại mép dán. Bên trong túi niêm phong có ch a: V bao gói gửi giám định và m u vật sau khi sử dụng một ph n trong quá trình giám định còn lại (M ch t r n tinh th màu tr ng được đ ng trong t i niêm phong mã s

7 97 g i giám đ nh còn l i được đ ng trong

một t i ni lông, có h i lượng đã trừ bì là: ,89 gam).

Trả lại cho chủ sở hữu ông A B: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn Đen-Xám, số máy: E3T6E416288, số khung: 1710KY277635, biển kiểm soát 82B1-774.08 (xe đã qua sử dụng).

Tình tr ng vật chứng có đặc đi m như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 5 tháng n m 6 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và hòng Thi hành án dân s hu v c 7 – tỉnh Quảng Ngãi .

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án. Buộc bị cáo A T phải chịu 200.000 đồng tiền án ph hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn c các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (27/3/2026) bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ