- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh Q - Tội sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2026/HS-ST Ngày: 18-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Đơn.
Bà Huỳnh Thị Thùy Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hải Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2026/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Minh Q, sinh ngày 17 tháng 3 năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh, CCCD: 074085028796. Nơi cư trú: Số I, tổ C, khu phố C, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh H và bà Nguyễn Thị Mai N; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 14/9/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại nơi cư trú trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 75/QĐ-TA; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2025 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Minh Q là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 1429/QĐ-UBND ngày 15/10/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C, Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian quản lý là 02 năm, từ ngày 06/10/2025 đến ngày 06/10/2027. Khoảng 09 giờ ngày 26/11/2025, Q điều khiển xe đạp nhãn hiệu Martin màu bạc chạy đến đoạn đường B thuộc phường T, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp bạn quen ngoài xã hội tên gọi là T (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch). Lúc này, T hỏi Q có muốn sử dụng ma tuý không, Q đồng ý nên T đưa cho Q một ít ma tuý Heroine. Sau đó, Q đi bộ một mình đến bậc tam cấp sát mép sông S gần đó để sử dụng hết số ma túy của T đưa, bằng hình thức cho ma túy vào thuốc lá điếu đầu lọc để hút. Đến khoảng 09 giờ ngày 28/11/2025, khi Q đang ở nhà tại khu phố C, phường C thì Công an phường C mời Q đến trụ sở để kiểm tra chất ma tuý trong cơ thể theo định kỳ, kết quả: Q dương tính với chất ma túy, loại MOP (M).
* Theo kết luận giám định số 11084/KL-KTHS ngày 08/12/2025 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tìm thấy trong mẫu nước tiểu của Lê Minh Q gửi đến giám định có chất ma túy Morphine. Không hoàn lại đối tượng giám định do đã phục vụ hết cho công tác giám định.
* Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Không có
* Đối với đối tượng T: Có hành vi đưa ma túy cho bị can Lê Minh Q để sử dụng nhưng hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đang điều tra, làm rõ và sẽ xử lý khi có đủ căn cứ.
Cáo trạng số 91/CT-VKSKV15 ngày 07/02/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Minh Q đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh Q từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Không có.
Tại phần tranh luận, bị cáo Q không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị.
Nói lời sau cùng: Bị cáo Q thấy việc làm của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 26/11/2025, Q gặp T tại đoạn đường B thuộc phường T, Thành phố Hồ Chí Minh và T hỏi Q có muốn sử dụng ma tuý không, Q đồng ý nên T đưa cho Q một ít ma tuý Heroine. Đến khoảng 09 giờ ngày 28/11/2025, khi Q đang ở nhà tại khu phố C, phường C thì Công an phường C mời Q đến trụ sở để kiểm tra chất ma tuý trong cơ thể theo định kỳ. Căn cứ Kết luận giám định số 11084/KL-KTHS ngày 08/12/2025 của Phòng K Công an Thành phố H thể hiện: Tìm thấy trong mẫu nước tiểu của Lê Minh Q gửi đến giám định có chất ma túy Morphine. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian đang chấp hành quản lý sau cai nghiện là vi phạm pháp luật, góp phần làm phát sinh các tệ nạn xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện là thể hiện sự xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can Lê Minh Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: không có.
Án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Đối với đối tượng T: Đưa ma túy cho bị can Lê Minh Q để sử dụng nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đang điều tra, làm rõ và sẽ xử lý khi có đủ căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Minh Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2025.
3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Không có.
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PV06); - VKSND Khu vực 15 – TP Hồ Chí Minh; - Phân trại tạm giam Bình Dương; - Thi hành án Dân sự TP Hồ Chí Minh; - Cơ quan THAHS CA TP Hồ Chí Minh; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Hằng |