- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H T Niê - Y Đ Ksơr"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H T Niê đối với bị đơn ông Y Đ Ksơr về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2026/HNGĐ-ST Ngày 08 – 9 – 2026 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Hồi.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Lệ Chi; Bà Hoàng Ngọc Quỳnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 174/2026/TLST-HNGĐ, ngày 26/5/2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/8/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2026/QĐST-HNGĐ ngày 18/8/2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà H T Niê, sinh năm 1988, Số CCCD: 066188013587
Địa chỉ: Buôn M Tar, xã Yang M, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Y Đ Ksơr, sinh năm 1985, Số CCCD: 066085005072
Địa chỉ: Buôn M Tar, xã Yang M, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2026, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình nguyên đơn: bà H T trình bày:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H T Niê và ông Y Đ Ksơr chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Yang M, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk. Chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là ông Y Đ không quan tâm đến gia đình, thường xuyên xúc phạm rồi đánh đập bà H T nên xảy ra bạo lực gia đình. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ ngày 12/6/2018 đến nay. Bà H T xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn chung sống với nhau đã lâu nên không còn khả năng đoàn tụ, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk giải quyết cho bà H T được ly hôn với ông Y Đ Ksơr.
[2] Về con chung: Bà H T Niê ông Y Đ Ksơr có 02 người con chung, cháu tên H Ư Niê, sinh ngày 23/10/2005 và Y T Niê, sinh ngày 10/6/2011. Cháu H Ư đã đủ 18 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh tự lo được cho bản thân nên không yêu cầu giải quyết.
Khi ly hôn, bà H T có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y T Niê và không yêu cầu ông Y Đ phải cấp dưỡng để nuôi con.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/5/2026 cháu Y T Niê khai: Cháu là con của mẹ H T Niê và bố Y Đ Ksơr. Từ lâu bố mẹ đã không còn ở với nhau, cháu đang ở với mẹ, khi cha mẹ cháu ly hôn không ở với nhau nữa, cháu muốn được trực tiếp ở với mẹ H T Niê.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại bản tự khai và biên bản làm việc khác bà H T Niê đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Y Đ Ksơr không hợp tác nên không thể làm việc được.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương: Ông Y Đ Ksơr hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại buôn M Tar, xã Yang M, tỉnh Đắk Lắk, anh Y Đ đi làm ăn xa nhưng không rõ là ở đâu. Anh Y Đ thường xuyên đi về để thăm gia đình. Hiện tại 02 vợ chồng không còn ở với nhau nữa.
Tòa án đã tống đạt bằng dịch vụ Bưu chính và niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tuy nhiên, ông Y Đ đều vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay, bà H T xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về hôn nhân: bà H T yêu cầu HĐXX xem xét giải quyết cho ly hôn với ông Y Đ vì cuộc sống xảy ra bạo lực gia đình, không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay nên không có khả năng đoàn tụ; Về con chung: bà H T có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Y Triệt Niê; về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Bà H T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Y Đ Ksơr vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk phát biểu quan điểm đối với việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Quá trình thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật về phiên toà sơ thẩm. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, các thủ tục tố tụng đã niêm yết đầy đủ, tại phiên tòa hôm nay đã được mở lần thứ hai nên việc HĐXX vẫn tiến hành xét xử là bảo đảm đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt, do vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định.
Về nội dung: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện, cung cấp đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bị đơn không hợp tác, cố tình vắng mặt.
Qua chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do đương sự cung cấp và tòa án thu thập được công khai tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa thì có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn gia đình của bà H T và ông Y Đ đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2018 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà H Thoại Niê được ly hôn với ông Y Đ Ksơr. Về con chung: giao con chung chưa đủ 18 tuổi là Y T Niê bà H T trực tiếp nuôi dưỡng. Các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Bà H T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có kinh tế đặc biệt khó khăn, đề nghị miễn toàn bộ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày và xác nhận của đương sự trước phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX xét thấy:
Về thẩm quyền: Vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa bà H T Niê với ông Y Đ Ksơr, do bị đơn có nơi cư trú tại khu vực 6 – Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Y Đ Ksơr vắng mặt lần thứ hai, quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt, tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt ông Y Đ là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật TTDS.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H T Niê và ông Y Đ Ksơr chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Yang M, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 01/9/2009. Chung sống hạnh phúc được thời gian mấy năm đầu thì xảy ra mâu thuẫn, ông Y Đ thường xuyên xúc phạm rồi đánh đập bà H T, không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay. Bà H T xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H T được ly hôn với ông Y Đ Ksơr.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Qua xác minh tại chính quyền địa phương, ông Y Đ vẫn có hộ khẩu tại địa phương nhưng đi làm ăn xa và không rõ địa chỉ, vẫn thường xuyên đi về thăm gia đình tại buôn M Tar, xã Yang M, tỉnh Đắk Lắk. Nhiều lần tòa án đã trực tiếp liên lạc qua điện thoại theo số điện thoại bà T cung cấp, trao đổi qua điện thoại, tòa án đã thông báo nội dung vụ án ly hôn và các yêu cầu của bà H T, ông Y Đ nói rằng vợ chồng đã từ lâu không còn ở với nhau, không còn liên quan gì đến nhau nữa, bà H T muốn làm gì thì làm, ông cũng không về Tòa án để giải quyết vụ án ly hôn, H T với Tòa án tự giải quyết. Như vậy ông Y Đ đã được thông báo nội dung vụ án về việc bà H T xin ly hôn nhưng ông Y Đ đều vắng mặt không có lý do, cố tình trốn tránh không hợp tác làm việc, ông Y Đ tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại biên bản xác minh mâu thuẫn gia đình ngày 15/7/2026, buôn trưởng buôn M Tar, xã Yang M, tỉnh Đắk Lắk, cho biết: ông Y Đ và bà H T có phát sinh mâu thuẫn gia đình nhưng không biết nguyên nhân mâu thuẫn là gì vì ban tự quản buôn không được thông báo, ông Y Đ bỏ đi làm ăn xa. Hiện tại 02 vợ chồng không còn ở với nhau nữa.
Qua lời trình bày của đương sự và biên bản xác minh, HĐXX xét thấy giữa bà H T và ông Y Đ thực tế có xảy ra mâu thuẫn gia đình, nguyên nhân là xuất phát từ việc ông Y Đ không quan tâm chăm lo cho cuộc sống chung của gia đình, nhiều lần xúc phạm và đánh đập bà H T nên thường xuyên xảy ra bạo lực gia đình. Bà H T khai vợ chồng đã không còn chung sống từ năm 2018 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, nay bà H T yêu cầu giải quyết ly hôn. Căn cứ vào chứng cứ nêu trên để khẳng định giữa bà H T và ông Y Đ mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng. Bà H T và ông Y Đ không còn chung với nhau đã lâu, không còn có sự thương yêu, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vi phạm thực hiện nghĩa vụ vợ chồng với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng đoàn tụ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà H T cần được HĐXX chấp nhận, cho bà H T Niê được ly hôn với ông Y Đ Ksơr là phù hợp theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà H T và ông Y Đ có 02 người con chung, các cháu tên là H Ư Niê, sinh ngày 23/10/2005 và Y T Niê, sinh ngày 10/6/2011. Cháu H Ư đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.
Khi ly hôn, bà H T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y T Niê. Tại bản tự khai cháu Y T Niê có nguyện vọng được trực tiếp ở với bà H T, xét nguyện vọng của cháu Y T và nguyện vọng của bà H T là chính đáng, kể từ khi sống ly thân đến nay thì bà H T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y T Niê nên HĐXX cần chấp nhận giao cháu Y T cho bà H T Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Bà H T không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra để giải quyết.
3. Về án phí: Bà H T Niê là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn tiền án phí nên bà H T được miễn toàn bộ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; Điều 144, Điều 147; Điều 220; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 241; 266; 267; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H T Niê đối với bị đơn ông Y Đ Ksơr về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H T Niê được ly hôn với ông Y Đ Ksơr. Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2009 ngày 01/9/2009 do Ủy ban nhân dân xã Yang M, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk cấp cho bà H T Niê và ông Y Đ Ksơr hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Giao cháu Y T Niê, sinh ngày 10/6/2011 cho bà H T Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Y T Niê đủ tròn 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật như; có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền này.
Để đảm bảo quyền lợi chung của con chưa đủ tuổi thành niên, các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Bà H T Niê được miễn toàn bộ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 6 – Đắk lắk; - Các đương sự; - UBND xã Yang Mao; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Văn Hồi |