- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2025/HSST Ngày 24 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hương Giang và bà Nguyễn Thùy Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST
- HS ngày 03/4/2025, đối với bị cáo:
Đinh Thị Mỷ H; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; sinh ngày 17 tháng 3 năm 1974, tại B, Quảng Bình; nơi cư trú: thôn 1, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 07/10; con ông Đinh Như H và bà Dương Thị H; chồng: Trần Văn C, sin năm 1972; con: có 02 người con (lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1996).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/02/2025 cho đến nay, có mặt.
Bị hại: Nguyễn Văn V (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Khu phố 4, Phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 25 phút ngày 25/02/2023, Đinh Thị Mỷ H, sinh năm 1974, trú tại thôn 1, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình, điều khiển xe mô tô mang BKS 73F1 - 482.22 di chuyển trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Bắc - Nam. Khi đến Km 648+200m thuộc địa phận thôn Phúc Tự Tây, xã Đại Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, trong lúc H đang di chuyển trên làn đường dành cho xe cơ giới bên trong (làn sát với làn dành cho xe thô sơ và người đi bộ bên phải) thì phát hiện phía trước trên làn xe cơ giới cùng chiều có 01 người đàn ông điều khiển xe đạp (được xác định là ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1949, trú tại Phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình). Do thiếu chú ý quan sát, khoảng cách quá gần, H không kịp phanh dừng xe lại, nên đã điều khiển xe lách về bên trái để tránh vượt lên. Trong lúc tránh vượt thì xảy ra va chạm với ông V làm xe mô tô của H ngã về bên trái và trượt lên phía trước, còn ông V và xe đạp ngã về bên phải (theo hướng di chuyển của hai phương tiện). Sau khi xảy ra va chạm, H quay lại kiểm tra phát hiện ông V bị thương, nên đã gọi xe ô tô và đưa ông V vào cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, đến ngày 28/3/2023 ông V tử vong do chấn thương sọ não (BL: 03, 31-33, 74-75, 118-130, 201-206).
* Kết quả khám nghiệm hiện trường theo hướng Bắc - Nam (hướng chuyển động của cả hai phương tiện), thấy: Đây là đoạn đường thẳng, được trải nhựa bằng phẳng chạy dọc theo hướng Bắc - Nam, phía Bắc là hướng đi thị xã Ba Đồn, phía Nam là hướng đi thành phố Đồng Hới. Mặt đường rộng 19,6m được chia thành 02 chiều đường riêng biệt ngăn cách bằng dải phân cách cứng làm bằng bê tông ở giữa, khoảng trống giữa hai chiều đường rộng 1,6m, mỗi chiều đường rộng 9m. Trên mỗi chiều đường được chia thành ba làn đường, làn đường dành cho xe cơ giới bên ngoài (nằm sát dải phân cách cứng) rộng 3,5m, làn đường dành cho xe cơ giới bên trong (nằm sát làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ) rộng 3,5m, làn đường trong cùng dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 02m. Làn đường cơ giới bên ngoài và làn đường cơ giới bên trong được ngăn cách với nhau bằng vạch sơn trắng đứt nét, còn làn đường cơ giới bên trong với làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ được ngăn cách bởi vạch sơn trắng liền nét. Hai bên lề đường bằng đất có cắm các cột mốc làm bằng bê tông. Phía Tây giáp mương thoát nước và ruộng lúa, phía Đông giáp ruộng lúa. Nằm trên dải phân cách cứng giữa đường có cột mốc ký hiệu H2/648. Lấy cột mốc ký hiệu H2/648 làm điểm mốc, lấy mép phải đường theo chiều hướng Bắc - Nam làm đường chuẩn (ký hiệu ĐC), kết quả khám nghiệm theo hướng Bắc
- Nam ghi nhận các dấu vết cụ thể như sau:
- Vị trí số 1: Xe đạp ngã nghiêng sang phải, nằm ở làn đường dành cho xe cơ giới bên trong, đầu xe quay hướng Đông Nam, đuôi xe quay hướng Tây Bắc. Tâm trục bánh sau nằm về phía Bắc so với điểm mốc, cách điểm mốc 13,8m và cách (ĐC) là 2,85m. Tâm trục bánh trước cách (ĐC) là 3,35m.
- Vị trí số 2: Đám máu nằm ở làn đường B, có kích thước (0,5 x 0,4)m. Tâm đám máu nằm về phía Nam so với vị trí 1, cách tâm trục bánh sau vị trí 1 là 1,3m và cách (ĐC) là 2,35m.
- Vị trí số 3: Vết cà trượt nằm ở làn đường dành cho xe cơ giới bên trong, có chiều dài 11,6m, nằm về phía Nam so với vị trí số 2, điểm đầu cách vị trí số 2 là 0,3m và cách (ĐC) là 3,75m. Điểm cuối nằm trùng với mép ngoài gác để chân phía trước bên trái xe mô tô BKS 73F1 - 482.22.
- Vị trí số 4: Xe mô tô BKS 73F1 - 482.22 nằm ngã nghiêng sang trái trên làn đường dành cho xe cơ giới bên trong, đầu xe quay hướng Đông Nam, đuôi xe quay hướng Tây Bắc, nằm về phía Nam so với vị trí 3, tâm trục bánh sau cách điểm đầu vị trí 3 là 11,6m và cách (ĐC) là 3,55m. Tâm trục bánh trước cách (ĐC) là 3,95m. (BL: 31 - 41).
* Kết quả khám nghiệm và giám định phương tiện xe mô tô BKS 73F1 - 482.22 và xe đạp nhãn hiệu ASAMA:
- Đối với xe đạp nhãn hiệu ASAMA:
+ Đầu ngoài tay cầm lái bên phải có dấu vết trượt xước, mài mòn cao su, kim loại kích thước (3 x 1)cm; + Đầu ngoài tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại kích thước (1,5 x 1)cm;
+ Góc trên trước bên trái giỏ hàng phía trước có dấu vết trượt xước, mài mòn nhựa, kim loại kích thước (5 x 0,5)cm, chiều hướng trước ra sau, từ trên xuống dưới;
+ Mặt bên trái vành bánh trước có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại kích thước (13 x 0,3)cm, chiều hướng từ tâm bánh ra ngoài, điểm gần nhất cách chân van 30cm. Mặt bên phải vành ở vị trí tương ứng bị cong, móp hướng từ ngoài vào tâm bánh, từ phải sang trái;
+ Đầu ngoài bàn đạp bên trái có dấu vết trượt xước, mài mòn nhựa kích thước (6 x 2)cm;
+ Góc phía sau bên trái giá chở hàng phía sau có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại kích thước (2 x 0,5)cm;
+ Đầu ngoài gác để chân phía sau bên phải có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại kích thước (3 x 2)cm;
+ Đầu ngoài gác để chân phía sau bên trái có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại kích thước (3 x 2,5)cm;
+ Mặt bên trái phía sau chắn bùn bánh sau có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại kích thước (4 x 0,2)cm;
- Đối với xe mô tô BKS 73F1 - 482.22:
+ Mặt ngoài gáo gương chiếu hậu bên trái có dấu vết trượt xước, mài mòn nhựa kích thước (10 x 7)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái;
+ Đầu trước phần trước chắn bùn bánh trước có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại kích thước (3 x 3)cm;
+ Đầu ngoài gác để chân phía trước bên trái có dấu vết trượt xước, mài mòn cao su, kim loại kích thước (4 x 3)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới;
+ Đầu ngoài gác để chân phía sau bên trái có dấu vết trượt xước kích thước (4 x 3)cm;
+ Phần sau ốp bảo vệ ống xả khí có dấu vết trượt xước, mài mòn nhựa kích thước (13 x 11)cm, chiều hướng từ trước ra sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 41cm;
+ Mặt bên phải biển kiểm soát có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại kích thước (3 x 0,7)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 54cm. (BL: 43-47).
Tại Bản Kết luận giám định số: 238/KL- KTHS, ngày 24/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: “Đặc điểm các dấu vết trên xe mô tô BKS 73F1 - 482.22 và xe đạp cần giám định không đủ cơ sở để kết luận có xảy ra va chạm giữa hai phương tiện này” (BL: 56-57).
Tại Bản Kết luận giám định số: 1128/KL- KTHS, ngày 20/6/2023 của Phân viện Khoa học hình sự - Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 73F1- 482.22 và xe đạp gửi giám định” (BL: 70-71).
* Kết quả khám nghiệm tử thi và giám định nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Văn V, sinh ngày 20/9/1949, trú tại khu phố 3, Phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình:
- Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 42/KLTTCT-TTGĐYK - PY, ngày 07/3/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: “Chấn thương sọ não: Vỡ xương trán phải và xoang trán phải, tụ máu ngoài màng cứng trán phải, tụ máu dưới màng cứng chẩm trái, xuất huyết dưới nhện rải rác hai bán cầu; đụng dập xuất huyết nhu mô não vùng trán hai bên, xuất huyết hệ thống não thất trên và dưới lều; đã được phẫu thuật lấy máu tụ trong não thất, dẫn lưu và điều trị. Hiện tại nạn nhân hôn mê, thở máy qua ống nội khí quản; chưa đánh giá được di chứng chức năng hệ thần kinh. Vết mổ sọ não vùng trán đỉnh trái đã được khâu bằng chỉ y tế kích thước 5,5 x 0,1cm; vết mổ dẫn lưu ở trán phải đường kính 0,5cm. Mặt ngoài mông phải xuống mặt ngoài đùi phải có đám bầm tím da kích thước 30 x 12cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn V tại thời điểm giám định là: 62% (sáu mươi hai phần trăm)”.
- Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 45/KLGĐTT-TTGĐYK-PY, ngày 25/4/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: “Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não” (BL: 99 -102, 104 -105,112 - 116).
Căn cứ kết quả điều tra xác định: Mặc dù, tại các Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình và Phân Viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng đều kết luận không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 73F1- 482.22 và xe đạp gửi giám định. Nhưng dựa trên cơ sở kết quả lời khai tự nguyện, khách quan của Đinh Thị Mỷ H, mối quan hệ nhân quả sự việc, các dấu vết ghi nhận tại hiện trường theo kết quả khám nghiệm của Phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình tiến hành sau khi xảy ra tai nạn, phù hợp với các dấu vết ngã trượt trên xe mô tô và xe đạp sau tai nạn. Có căn cứ xác định, thời điểm sau khi xảy ra tai nạn, đã có sự tác động trực tiếp từ phía xe mô tô hoặc đồ vật chở sau xe mô tô của H lên xe đạp hoặc người ông V khiến cả hai xe và người cùng ngã xuống đường, phù hợp với tình huống xe mô tô của H ngã nghiêng sang trái và cà trượt về phía trước, còn ông V và xe đạp bị ngã nghiêng sang phải cà trượt xuống mặt đường đã tạo ra một số dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại ở bên trái xe mô tô và bên phải xe đạp. Hậu quả ông V ngã xuống đường sau tai nạn dẫn đến chấn thương sọ não là nguyên nhân chính gây tử vong. Như vậy, nguyên nhân dẫn tới vụ tai nạn giao thông đường bộ nói trên do Đinh Thị Mỷ H điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn với xe cùng chiều phía trước gây ra tai nạn, vi phạm khoản 1, Điều 12 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả làm chết 01 người, nên hành vi của H đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết tăng nặng: không có.
- Tình tiết giảm nhẹ và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Đinh Thị Mỷ H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b và s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
* Việc thu giữ đồ vật và xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ và xử lý trả lại xe mô tô BKS 73F1- 482.22 cùng các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp là Đinh Thị Mỷ H; Trả lại xe đạp nhãn hiệu ASAMA cho anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1979, trú tại khu phố 4, Phường B, thị xã B, là đại diện theo ủy quyền của gia đình nạn nhân Nguyễn Văn V. Đối với túi ni long hàng chở rau trên xe mô tô BKS 73F1-482.22, theo lời khai của H, sau khi xảy ra tai nạn do H trực tiếp đưa ông V đi cấp cứu nên không ở lại hiện trường, đến khi H quay lại hiện trường tham gia chứng kiến việc Phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình khám nghiệm thì không còn túi ni long hàng do đã bị mất, nên không tìm lại được. Tiếp tục tạm giữ theo hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 441048003192, do Sở GTVT tỉnh Quảng Bình cấp ngày 16/02/2017 mang tên Đinh Thị Mỷ H (BL: 157-160, 190-191).
* Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong các chi phí cấp cứu, điều trị, mai táng phí và tổn thất tinh thần theo thỏa thuận cho gia đình nạn nhân số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng). Đối với xe đạp, gia đình nạn nhân đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường chi phí khắc phục sửa chữa. Gia đình nạn nhân có đơn cam đoan không có yêu cầu, khiếu nại gì thêm (BL: 145-148).
Tại bản cáo trạng số 30/CT - VKSBT ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Bố Trạch để xét xử Đinh Thị Mỷ H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự như đã nêu trên, và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với Đinh Thị Mỷ H.
Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Đinh Thị Mỷ H từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/4/2025).
Giao bị cáo Đinh Thị Mỷ H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại 92 của Luật thi hành án hình sự.
Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng trả lại Giấy phép lái xe cho bị cáo H, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên toà, bị cáo nói lời sau cùng là đã thấy được hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ và cải tạo tại địa phương để có điều kiện cải tạo tốt, giúp đỡ gia đình và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bố Trạch, Điều tra viên Công an huyện Bố Trạch, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên toà vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại, nhưng quyền lợi liên quan đối với họ đã giải quyết xong và họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án, nên việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ là có căn cứ.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Lời khai nhận tội của bị cáo, không gian, thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện..., kết luận giám định pháp y hoàn toàn phù hợp nhau. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
Xuất phát từ sự chủ quan, ngày 25/02/2023, Đinh Thị Mỷ H (có giấy phép lái xe hạng A1 đúng theo quy định) điều khiển xe mô tô mang BKS 73F1 - 482.22 di chuyển trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Bắc – Nam. Khi đến Km 648 + 200m thuộc địa phận thôn Phúc Tự Tây, xã Đại Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, do thiếu chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn nên đã va vào xe đạp và người của ông Nguyễn Văn V đang điều khiển đi phía trước cùng chiều, làm ông V ngã xuống đường chấn thương sọ não, sau đó tử vong. Hành vi của Đinh Thị Mỷ H vi phạm khoản 1, Điều 12 Luật Giao thông đường bộ.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung vụ án như trình bày ở trên là hoàn toàn đúng, do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Thị Mỷ H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội của bị cáo gây ra trong vụ án này thấy rằng:
Bị cáo Đinh Thị Mỷ H là người đã trưởng thành, có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe mô tô mang BKS 73F1 - 482.22 di chuyển theo hướng Bắc – Nam. Khi đến Km 648 + 200m thuộc địa phận thôn Phúc Tự Tây, xã Đại Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, do thiếu chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn nên đã va vào xe đạp và người của ông Nguyễn Văn V đang điều khiển đi phía trước cùng chiều, làm ông V ngã xuống đường chấn thương sọ não, sau đó tử vong, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể là những quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ và bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân.
Nên đối với bị cáo cần xử phạt mức án tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả do bị cáo gây ra nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung về loại tội phạm này.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến trước ngày phạm tội chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lổi vô ý, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ trách nhiệm dân sự cho phía gia đình bị hại, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mua bán hàng rau, củ…ở chợ, thu nhập không ổn định nhưng đã bồi thường số tiền khá lớn so với hoàn cảnh kinh tế của bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến trước ngày phạm tội chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Những tình tiết giảm nhẹ nói trên được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt chính: Trên cơ sở những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử cân nhắc, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân khách quan, yếu tố chủ quan, tính nhân đạo của pháp luật để khi quyết định hình phạt đảm bảo tính giáo dục và trừng trị mang tính thuyết phục đối với bị cáo. Theo đó bị cáo phạm tội với lổi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, hiện nay có nơi cư trú rỏ rảng, sự việc xảy ra có một phần lổi của ông Nguyễn Văn V đã điều khiển xe đạp đi trên làn đường dành cho xe cơ giới, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt tù cho hưởng án treo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại, đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
Số vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã xử lý xong, đúng pháp luật, nên miễn xét.
Số vật chứng còn lại được xử lý như sau:
Trả lại 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 441048003192, do Sở GTVT tỉnh Quảng Bình cấp ngày 16/02/2017 mang tên Đinh Thị Mỷ H cho Đinh Thị Mỷ H khi án có hiệu lực pháp luật.
Giấy phép lái xe hiện đang lưu giữ theo hồ sơ vụ án sẻ được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch để thi hành.
Đối với ông Nguyễn Văn V, tại thời điểm xảy ra tai nạn đã điều khiển xe đạp đi trên làn đường dành cho xe cơ giới, vi phạm khoản 1, Điều 9, Luật Giao thông đường bộ. Do ông V đã chết nên không xử lý.
Quan điểm luận tội và đề nghị hướng giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng của bị cáo là có căn cứ và sẻ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với Đinh Thị Mỷ H.
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị Mỷ H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt:
Bị cáo Đinh Thị Mỷ H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/4/2025).
Giao bị cáo Đinh Thị Mỷ H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại 92 của Luật thi hành án hình sự.
[3] Vật chứng vụ án: Trả lại 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 441048003192, do Sở GTVT tỉnh Quảng Bình cấp ngày 16/02/2017 mang tên Đinh Thị Mỷ H cho Đinh Thị Mỷ H khi án có hiệu lực pháp luật.
Giấy phép lái xe hiện đang lưu giữ theo hồ sơ vụ án sẻ được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch để thi hành.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Thị Mỷ H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/4/2025). Riêng đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho họ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm vụ án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh QB; - Sở TP tỉnh QB; - VKSND tỉnh QB; - PV 06 (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CAQB); - VKSND huyện BT; - Cơ quan THAHS – CA tỉnh QB; - Chi cục THADS huyện BT; - UBND xã Đ, huyện B; - Thi hành án hình sự TABT; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác: ……………………………………..; - Lưu HSVA; - Lưu AV; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phú Quảng |