- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh Q - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Q, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B V – TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày 28/6/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B V, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Thịnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoan; Ông Nguyễn Đại Huy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải – Thư ký TAND huyện B V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện B V , TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Hưng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
1/. Họ và tên: Nguyễn Mạnh Q, sinh năm 1987. Tên gọi khác: Không Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Ch, xã X S, thị xã S T, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Con ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1964. Con bà Quách Thị C, sinh năm 1965. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 chị em. Vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1987 ( đã ly hôn năm 2024). Con: có 02 con, Nguyễn Minh V, sinh năm 2011; Nguyễn Minh Kh, sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự : không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2012/HSST, ngày 16/3/2012, TAND thị xã Sơn Tây xử phạt Nguyễn Mạnh Q 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo hiện được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967 ( đã chết).
+ Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1971.(vợ bị hại).
- Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1993. (con bị hại).
- Anh Nguyễn Thành Tr, sinh năm 2008. (con bị hại). Đều địa chỉ: Thôn V M, xã C Th, huyện B V, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Á, anh Nguyễn Thành Tr, là anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn V M, xã C Th, huyện B V, thành phố Hà Nội.
* Nguyên đơn dân sự:
- Chị Phùng Thị Thu H, sinh năm 1994. Địa chỉ:Số 11, Phạm Hồng Th, phường Q Tr, thị xã S T, thành phố Hà Nội.
* Bị đơn dân sự:
- Anh Phùng Tiến B, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn C L, xã Ph S, huyện B V, thành phố Hà Nội. ( Bà Á, anh Th, anh Tr, anh B có mặt, chị H vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ 50 ngày 17/7/2024 tại Km50+537 Quốc lộ 32 thuộc địa phận thôn Đ V – Đ Q – B V xảy ra vụ TNGT giữ xe mô tô BKS 29V1-198.52 do Nguyễn Mạnh Q (SN 1987, HKTT: X S – S T – Hà Nội) điểu khiển chở đằng sau là Nguyễn Văn L (SN 1967, HKTT: C Th – B V – Hà Nội) di chuyển theo hướng Sơn Tây đi Trung Hà, với xe ô tô BKS 30K-837.42 do Phùng Tiến B (SN 1993, HKTT: C L – Ph S – B V) điều khiển theo hướng Tr H đi S T. Hậu quả, L và Q bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện 105 Sơn Tây. Đến ngày 18/7/2024, ông L tử vong tại nhà. Hai phương tiện bị hư hỏng. Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan CSĐT- CA huyện B V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường liên quan đến vụ tai nạn giao thông.
- Khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông xác định: Hiện trường là mặt đường Quốc lộ 32 được trải nhựa bằng phẳng, rộng 8,2m, giữa đường có vạch sơn màu vàng ngắt quãng chia thành hai chiều xe chạy, mỗi chiều đường rộng 4,1m. Hiện trường nằm hoàn toàn trên chiều đường bên trái hướng TX Sơn Tây đi huyện B V. Mặt đường ướt do trời mưa. Lấy cột mốc ký hiệu “Km50+500” nằm bên trái đường hướng Sơn Tây
- B V làm mốc. Lấy mép đường bên trái hướng Sơn Tây - B V làm mép đường chuẩn. Khám nghiệm hiện trường theo hướng B V – S T xác định:
+ Vị trí 1: Là xe mô tô BKS: 29V1-198.52; Xe mô tô nằm đổ nghiêng bên trái so với người điều khiển hướng Sơn Tây - B V, đầu xe nằm chếch chéo hướng B V, đuôi xe quay về hướng S T. Đo từ tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn được 2,77m. Đo từ tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn được 2,14m. Đo từ cột mốc Km50+500 đến tâm trục bánh sau được 37,3m.
+ Vị trí 2: Là vũng máu trên hiện trường không rõ hình thù, vũng máu diện (0,4x0,45)m. Đo từ tâm vũng máu vào mép đường chuẩn được 0,5m. Đo từ tâm trục bánh sau của xe mô tô BKS: 29V1-198.52 đến tâm vũng máu được 0,4m.
+ Vị trí 3: Là xe ô tô BKS: 30K-837.42; Đầu xe hướng đi Sơn Tây, đuôi xe hướng về phía B V. Đo từ tâm trục bánh trước bên phải của người lái vào mép đường chuẩn được 02m. Đo từ tâm trục bánh sau bên phải vào mép đường chuẩn được 2,1m. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô BKS: 29V1-198.52 đến tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô BKS: 30K-837.42 được 1,20m.
- Khám nghiệm phương tiện giao thông sau tai nạn:
Khám xe mô tô BKS: 29V1-198.52 xác định: Toàn bộ ốp nhựa đầu xe bị bung chốt, gãy vỡ; Cánh yếm chắn gió hai bên trái phải bị vỡ nhựa; Tay lái xe bị cong từ trước về sau; Ốp nhựa chắn bùn, giảm sóc hai bên của bánh trước bị gãy rời khỏi xe; Vành xe bánh trước bị cong vênh, móp méo, gay nan hoa; Bàn để chân trước bên trái bị cong vênh, cao su bọc bị lật về trước.
Khám xe ô tô BKS: 30K-837.42 xác định: Mặt ngoài phía trước bên phải nắp capo bị móp méo; Biển kiểm soát phía trước bị vỡ kính, móp méo kim loại; Cản trước đầu xe bị vỡ nhựa; Mặt ca lăng bị nứt; Phần ốp nhựa ba đờ sốc bị vỡ; Khung xe phía trước bên phụ bị móp kim loại.
Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 1943/QĐ-CSĐT, ngày 26/7/2024 để trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ph Th giám định cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS: 29V1-198.52 với ô tô BKS: 30K-837.42 trong vụ việc trên. Bản kết luận giám định số: 1163/KL-KTHS, ngày 27/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ph Th kết luận: “Vết trượt xước mất sơn bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở ốp nhựa đầu xe bên phải và ốp đèn xin nhan bên phải tương ứng trên xe mô tô biển số 29V1-198.52 phù hợp với vết trượt xước mất sơn bám dính chất màu đen, nâu ở mặt trên, bên phải nắp capo trên xe ô tô biển số 30K-837.42”
Cơ quan CSĐT đã tiến hành ra soát camera tại hiện trường. Kết quả: Thu giữ 01 đoạn video do ông Hà Ngọc L (SN: 1968; trú tại: thôn H Th, Đ L, S T Hà Nội) cung cấp, ghi nhận hình ảnh Nguyễn Mạnh Q điều khiển xe mô tô chở ông Nguyễn Văn L đi trên QL32 hướng TX S T đi huyện B V, lấn sang làn đường ngược chiều để vượt qua xe ô tô khách dẫn đến vụ tai nạn giao thông.
Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 1829/QĐ-CSĐT, ngày 18/7/2024 để trưng cầu Trung tâm pháp y Hà Nội giám định pháp y tử thi, xác định nguyên nhân tử vong đối với nạn nhân Nguyễn Văn L. Tuy nhiên, gia đình nhạn nhân Nguyễn Văn L kiên quyết từ chối, ngăn cản cơ quan CSĐT tiến hành pháp y tử thi nạn nhân L với lý do gia đình xác định rõ nguyên nhân tử vong của của nạn nhân L là do bị tai nạn giao thông, không phải do bất cứ nguyên nhân nào khác. Gia đình nạn nhân L đã có Đơn xin từ chối pháp y tử thi gửi cơ quan CSĐT; cam kết việc làm đơn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai xúi giục, đe dọa, ép buộc gì và sẽ không có bất cứ khiếu kiện, khiếu nại gì về nguyên nhân tử vong của nạn nhân L kể từ nay về sau. Do đó, cơ quan CSĐT không tiến hành được việc pháp y tử thi, chỉ khám dấu vết bên ngoài đối với tử thi nạn nhân L. Tại Kết luận giám định tử thi số: 982/965/2024/KLGĐTT-TTPY, ngày 07/8/2024 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận: “Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chế”
Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 1837/QĐ-CSĐT, ngày 19/7/2024 để trưng cầu Trung tâm pháp y Hà Nội giám định hóa pháp đối với mẫu máu của Phùng Tiến B, xác định chất cồn, ma túy. Tại Kết luận giám định độc chất số: 649/2024/KLGĐĐC-TTPY, ngày 30/7/2024 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận: “Mẫu máu của anh Phùng Tiến B giám định không tìm thấy Ethanol; Mẫu máu của anh Phùng Tiến Bình giám định không tìm thấy các chất ma tuý”.
Cơ quan CSĐT đã thu thập hồ sơ Bệnh án cấp cứu, điều trị ngày 17/7/2024 của Nguyễn Mạnh Q tại Bệnh viện Q y 105 - Bộ quốc phòng. Kết quả xác định: Xét nghiệm hóa sinh (lấy mẫu máu vào hồi 17 giờ 08 phút ngày 17/7/2024) đối với Nguyễn Mạnh Q xác định: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Nguyễn Mạnh Q là 166.7 mg/100ml.
Ngày 05/8/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện B V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 2038/QĐ-CSĐT để trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ Công an giám định thương tích của Nguyễn Mạnh Q. Tuy nhiên, Q có Đơn xin từ chối giám định thương tích do Q không có yêu cầu, đề nghị giải quyết về thương tích của mình, không yêu cầu ai phải bồi thường hay hỗ trợ dân sự gì. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định dẫn giải số: 2039/CSĐT, ngày 05/08/2024 để dẫn giải Nguyễn Mạnh Q đến Viện khoa học hình sự - Bộ Công an giám định thương tích. Tuy nhiên, Q vẫn kiên quyết từ chối không đi giám định thương tích. Q cam kết không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại, khiếu kiện gì về thương tích của mình trong vụ tai nạn giao thông nêu trên. Cơ quan CSĐT- Công an huyện B V đã tiến hành lập biên bản theo quy định.
Cơ quan CSĐT đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 2782/YC-CSĐT, ngày 12/8/2024 để yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B V, TP Hà Nội tiến hành định giá phần tài sản bị thiệt hại của hai phương tiện liên quan trong vụ tai nạn. Tại Kết luận định giá tài sản số: 87/KL-ĐGTS, ngày 14/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B V đã kết luận: “Giá trị các bộ phận bị hư hỏng của chiếc xe mô tô BKS: 29V1-198.52 là: 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng); Giá trị các bộ phận bị hư hỏng của chiếc xe ô tô BKS: 30K-837.42 là: 11.200.000 đồng (Mười một triệu hai trăm nghìn đồng)”
Qua quá trình điều tra, đã xác định: Khoảng 13 giờ 30 ngày 17/7/2024, Nguyễn Mạnh Q điều khiển xe mô tô BKS 29V1-198.52 chở ông Nguyễn Văn L từ Cam Thượng – B V đến nhà người quen ở xã T Ph– B V để xin việc làm. Q điều khiển xe máy đi theo đường Quốc lộ 32 hướng S T đi Tr H, khi đi đến Km50+537 thuộc địa phận thôn Đ V – Đ Q – B V, Q quan sát thấy phía trước có 01 xe ô tô khách đi ở phần đường ngược chiều với hướng di chuyển của Q, xe ô tô khách này đang chuyển hướng sang đường vào trạm dừng nghỉ A1. Thấy phần đường bên trái phía sau đuôi xe ô tô khách có khoảng trống, Q điều khiển xe mô tô di chuyển sang làn đường trái theo hướng di chuyển để vượt qua xe khách. Khi vừa vượt qua xe khách, Q phát hiện xe ô tô BKS 30K – 837.42 do Phùng Tiến Bình điều khiển đang di chuyển ở phần đường ngược chiều hướng Tr H đi S T đi đến. Do khoảng cách gần, Q không kịp xử lý, nên phần đầu xe mô tô của Q đã đâm vào phần đầu bên phụ của xe ô tô BKS 30K – 837.42 gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả: Q và ông L bị ngã ra đường và bị thương, được mọi người đưa đi cấp cứu.
Cơ quan CSĐT đã ra Công văn số: 2049/CV-CSĐT, ngày 18/11/2024 gửi Sở giao thông vận tải Hà Nội đề nghị cung cấp thông tin về việc cấp giấy phép lái xe đối với Nguyễn Mạnh Q. Tại Công văn số: 7749/SGTVT-QLPT&NT, ngày 15/11/2024 của Sở giao thông vận tải Hà Nội trả lời: Sở giao thông vận tải Hà Nội cấp giấy phép lái xe hạng A1 số AR376761 cho Nguyễn Mạnh Q, ngày cấp: 22/3/2011 (Giá trị: Không thời hạn)
Vật chứng và đồ vật thu giữ:
- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast, loại VF 5 plus, màu trắng, BKS: 30K-837.42: Tiến hành tra cứu chủ sở hữu xác định Đăng ký xe đứng tên chị Phùng Thị Thu H (SN: 1994; Trú tại: 11 Phạm Hồng Th, Q Tr, S T, Hà Nội). Tiến hành ghi lời khai chị Phùng Thị Thu H xác định: Chị H mua mới chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast VF 5 plus, BKS: 30K-837.42 vào khoảng cuối tháng 5/2024 bằng hình thức trả góp trong thời gian 08 năm, đã trả trước 15% giá trị xe, còn lại vay của ngân hàng VPBank 85% nên hiện tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Th V (VPBank) chi nhánh Th L phòng giao dịch N T L (địa chỉ: 290-292 Hồ Tùng M, C D, N T L, Hà Nội) đang giữ bản gốc giấy chứng đăng ký xe ô tô của chiếc xe. Ngày 24/5/2024, chị H và anh Phùng Tiến B lập “Hợp đồng cho thuê xe tự lái”. Ngày 01/7/2024, chị H giao chiếc xe trên cho anh Bình sử dụng. Cơ quan CSĐT trao trả chiếc xe ô tô trên cho anh Phùng Tiến B.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Quick, BKS: 29V1-198.52: Tiến hành tra cứu chủ sở hữu xác định Đăng ký xe đứng tên ông Nguyễn Trọng Sy (SN: 1965; trú tại: thôn Phú Mỹ, T Đ, B V, Hà Nội; đã chết). Tiến hành ghi lời khai bà Nguyễn Thị L (SN: 1968; trú tại: thôn Ph M, T Đ, B V, Hà Nội; là vợ của ông S) xác định: Vợ chồng bà Lan mua chiếc xe mô tô BKS: 29V1-198.52 từ năm 2013. Năm 2019, sau khi ông Sy chết, bà Lan bán chiếc xe cho một người đàn ông (không nhớ thông tin, địa chỉ). Nguyễn Mạnh Q trình bày: Q mua chiếc xe trên vào tháng 4/2023 của một người đàn ông tên Tuấn, có cửa hàng sửa chữa, mua bán xe mô tô cũ tại QL32 thuộc thôn Th Th, xã C Th, B V, Hà Nội. Việc mua bán giữa Q và ông Tuấn không có hoá đơn, giấy tờ gì liên quan. Quá trình sử dụng không xảy ra tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng hay trộm cắp gì liên quan. Tiến hành ghi lời khai ông Vũ Văn T (SN: 1966; trú tại: thôn Th Th, xã C Th, B V, Hà Nội) là thợ sửa chữa, mua bán xe mô tô cũ có cửa hàng tại mặt đường QL32 thuộc thôn Th Th, C Th, B V xác định: Ông T làm nghề mua bán xe mô tô từ năm 1990 đến nay, đã giao dịch mua bán nhiều loại xe mô tô cũ với nhiều người khách lạ nên không nhớ được đã từng mua bán chiếc xe mô tô BKS: 29V1-198.52 hay chưa. Ông T cũng không quen biết, không nhớ đã từng bán chiếc xe mô tô nào cho Nguyễn Mạnh Q hay chưa. Ông T không có giấy tờ mua bán gì liên quan đến chiếc xe mô tô BKS: 29V1-198.52. Kết quả tra cứu vật chứng xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Quick, BKS: 29V1-198.52 không trùng xe vật chứng. Cơ quan CSĐT trao trả chiếc xe mô tô trên cho Nguyễn Mạnh Q.
Về dân sự: Nguyễn Mạnh Q đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn L số tiền 50.000.000 đồng. Gia đình ông L không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự. Chị Phùng Thị Thu H đề nghị anh Phùng Tiến B bồi thường cho chị H số tiền 62.082.000 đồng bao gồm: 17.082.000 đồng là chi phí sửa chữa, thuê pin đối với chiếc xe ô tô BKS: 30K-837.42 và 45.000.000 đồng là thiệt hại khấu hao giá trị của chiếc xe sau vụ tai nạn. Anh Bình chưa bồi thường số tiền trên cho chị Huyền. Anh Phùng Tiến B không yêu cầu đề nghị Nguyễn Mạnh Q phải bồi thường thiệt hại gì đối với chiếc xe ô tô BKS: 30K-837.42 bị hư hỏng sau tai nạn.
Tại bản Cáo trạng trạng số: 39/CT-VKS ngày 12/6/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện B V truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh Q về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm b, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B V vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54; Điều 38 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Q từ 18 đến 24 tháng tù. Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Gia đình bị hại không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với anh Phùng Tiến B không yêu cầu đề nghị bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì đối với chiếc xe ô tô BKS: 30K-837.42 bị hư hỏng sau tai nạn. Đối với yêu cầu của chị Phùng Thị Thu H yêu cầu anh Phùng Tiến B bồi thường cho chị H số tiền 62.082.000 đồng bao gồm: 17.082.000 đồng là chi phí sửa chữa, thuê pin đối với chiếc xe ô tô BKS: 30K-837.42 và 45.000.000 đồng là thiệt hại khấu hao giá trị của chiếc xe sau vụ tai nạn. Tại phiên tòa anh Bình đồng ý bồi thường toàn bộ cho chị Huyền số tiền 62.082.000 đồng, đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của anh Bình. Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, anh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B V, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện B V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Mạnh Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại CQĐT, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, định giá tài sản, khám nghiệm tử thi. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q là người đã có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Ngày 17/7/2024, mặc dù đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn 166.7mg/100ml), bị cáo Q điều khiển xe mô tô BKS: 29V1-198.52 chở phía sau ông Nguyễn Văn L di chuyển trên QL32 hướng TX S T - huyện B V. Khi đi đến Km50+537 QL32, thuộc địa phận thôn Đ V, xã Đ Q, huyện B V, Hà Nội; phát hiện có chướng ngại vật phía trước nhưng do chủ quan, bị cáo Q không giảm tốc độ, không chú ý quan sát mà điều khiển xe mô tô di chuyển sang làn đường trái theo hướng di chuyển. Dẫn đến: Đầu xe mô tô do bị cáo Q điều khiển đâm trực diện vào đầu xe ô tô BKS: 30K-837.42 do anh Phùng Tiến B điều khiển đang di chuyển hướng huyện B V đi TX S T gây hậu quả khiến ông Nguyễn Văn L tử vong. Như vậy HĐXX có đầy đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh Q, thực hiện ngày 17/7/2024, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 260 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện B V, thành phố Hà Nôi truy tố và để đưa ra xét xử là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ hành vi vi phạm bị cáo gây ra.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh Q đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả về tính mạng, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại, tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo cũng đã bồi thường toàn bộ tiền sửa chữa xe cho anh Phùng Tiến B. Do vậy bị cáo Nguyễn Mạnh Q được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tai điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 BLHS năm 2015, sửa đổi bố sung năm 2017.
Qua phân tích và nhận định như trên, trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. HĐXX xét thấy: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng việc bị cáo đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn 166.7mg/100ml) mà vẫn điều khiển phương tiện tham gia giao thông là hành vi bị nghiêm cấm, cũng vì rượu bia mà bị cáo không quan sát được tình huống, khi phát hiện có chướng ngại vật phía trước nhưng do chủ quan, bị cáo Q không giảm tốc độ, không chú ý quan sát mà điều khiển xe mô tô di chuyển sang làn đường trái theo hướng di chuyển, dẫn đến đầu xe mô tô do bị cáo Q điều khiển đâm trực diện vào đầu xe ô tô BKS: 30K-837.42 do anh Phùng Tiến B điều khiển đang di chuyển theo chiều đi của mình, gây hậu quả khiến ông Nguyễn Văn L tử vong. Do vậy cần áp dụng Điều 38 BLHS cách ly bị cáo ra khỏi đòi sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội, tuy nhiên khi lượng hình, HĐXX xem xét trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đã biết ăn năn hối cải và tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả về thiệt hại tính mạng, sức khỏe, tinh thần cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo cũng đã bồi thường toàn bộ tiền sửa chữa xe cho anh Phùng Tiến Bình, giữa bị cáo với bị hại có quan hệ thân thích gần trong gia đình, bà ngoại của bị cáo là chị gái mẹ đẻ của bị hại, bị cáo là vai cháu, phải gọi bị hại bằng cậu. Do vậy HĐXX xem xét áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo được hưởng dưới khung hình phạt, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Tại khoản 5 Điều 260 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy đinh: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. HĐXX xét điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo, bản thân bị cáo không hành nghề vận tải, nên xét miễn hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Nguyễn Mạnh Q đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn L số tiền 50.000.000 đồng. Gia đình ông L không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Nguyễn Mạnh Q đã bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Phùng Tiến Bình, anh Phùng Tiến Bình không yêu cầu đề nghị bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì đối với chiếc xe ô tô BKS: 30K-837.42 bị hư hỏng sau tai nạn.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của chị Phùng Thị Thu H yêu cầu anh Phùng Tiến B bồi thường cho chị H số tiền 62.082.000 đồng bao gồm: 17.082.000 đồng là chi phí sửa chữa, thuê pin đối với chiếc xe ô tô BKS: 30K-837.42 và 45.000.000 đồng là thiệt hại khấu hao giá trị của chiếc xe sau vụ tai nạn. HĐXX xét thấy mặc dù yêu cầu của chị H không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và chị H chưa cung cấp được các tài liệu chứng cứ để chứng minh yêu cầu trên, tuy nhiên việc anh B thuê xe tự lái đã phát sinh vụ việc tai nạn giao thông, chiếc xe bị tạm giữ nhiều ngày tại cơ quan tố tụng cũng sẽ phát sinh khấu hao tài sản. Xét thấy tại phiên tòa anh Phùng Tiến B đồng ý tự nguyện bồi thường cho chị Phùng Thị Thu H số tiền: 62.082.000 đồng, xét đây là sự tự nguyện của anh Phùng Tiến B, do vậy HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của anh Phùng Tiến Bình có trách nhiệm bồi thường số tiền: 62.082.000 đồng cho chị Phùng Thị Thu H là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, anh Phùng Tiến Bình phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Q, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2/ Áp dụng: Điểm b, khoản 2, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54; Điều 38 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Q: 15 ( Mười lăm ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3/. Về dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589, 601 BLDS năm 2015.
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản của anh Phùng Tiến B đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của chị Phùng Thị Thu H. Anh Phùng Tiến B có trách nhiệm bồi thường cho chị Phùng Thị Thu H tổng số tiền thiệt hại về tài sản: 62.082.000đ (Sáu mươi hai triệu, không trăm tám mươi hai nghìn đồng), bao gồm: 17.082.000đ ( Mười bảy triệu, không trăm tám mươi hai nghìn đồng) là chi phí sửa chữa, thuê pin đối với chiếc xe ô tô BKS: 30K-837.42 và 45.000.000đ ( Bốn mươi lăm triệu đồng), là thiệt hại khấu hao giá trị của chiếc xe sau vụ tai nạn.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả cho người được thi hành án số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
4/ Án phí: Áp dụng Điều 135 BLTTHS năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Mạnh Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Anh Phùng Tiến B phải chịu 3.104.000đ (Ba triệu, một trăm linh bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 BLTTHS năm 2015.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nguyên đơn dân sự; Bị đơn dân sự có quyền kháng cáo về phần bản án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND huyện - Người tham gia tố tụng - THA dân sự - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phúc Thịnh |