vanban.org

Bản án 43/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 10/07/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/07/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H- Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-PT
Ngày: 10 - 7 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Sơn

Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Đạt; Ông Tôn Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thủy Tiên– Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thanh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5- Vĩnh Long).

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1999 tại tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H1 và bà Nguyễn Thanh T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19/10/2024, Nguyễn Thanh H điều khiển xe mô tô Biển số 71B3 - 753.62 chở sau Nguyễn Vinh H2 (là bạn của H) lưu thông trên Quốc lộ F hướng từ vòng xoay Phường F về cầu H, khi đến Km17 thuộc địa phận ấp B, xã B, thành phố B xe H điều khiển đụng vào xe mô tô Biển số 71L1 - 099.50 do Lê Văn Ngọc L điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả Nguyễn Vinh H2 bị thương nặng được mọi người đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện Đ, tỉnh Bến Tre, nhưng H2 không qua khỏi đã tử vong vào lúc 18 giờ 20 phút ngày 20/10/2024 tại nhà ở ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Hai xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 ( một) xe mô tô Biển số 71B3 - 753.62, nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu bạc, số máy JF66E1071183, số khung RLHJF5815GY975750 đã qua sử dụng; 01 ( một) xe mô tô Biển số 71L1-099.50, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xám đen cam, số máy G3D4E1139218, số khung RLCUG1010NY368179 đã qua sử dụng; 01 ( một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Biển số 71B3-753.62 mang tên Nguyễn Thanh H; 01 ( một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Biển số 71L1-099.50 Lê Văn Ngọc Lil; 01 ( một) Giấy phép lái xe Số 790201074444 mang tên Nguyễn Thanh H; 01 ( một) áo thun ngắn tay, màu xám, phía trước ngực có chữ “LENOS”; 01 ( một) quần sọt Jeans, trên thắt lưng có chữ “Hand wear”; 01 ( một) áo sơ mi dài tay sọc ca rô mà đỏ đen; 01 ( một) quần dài Jeans màu đen.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ghi nhận như sau: Hiện trường bị xáo trộn một phần do cấp cứu người bị nạn và do các phương tiện lưu thông qua lại nhiều. Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa rộng 21m, ở giữa có dải phân cách cố định chia mặt đường thành hai phần đường xe chạy bằng nhau, mỗi phần đường rộng 10,5m có 03 làn đường lưu thông gồm: làn đường dành cho xe ô tô các loại rộng 3,8m, làn đường dành cho xe mô tô và ô tô các loại rộng 3,4m, làn đường dành cho xe mô tô rộng 3,3m. Phần đường xảy ra tai nạn nằm bên phải theo hướng lưu thông từ Vòng xoay Phường F về cầu H. Chọn hướng khám nghiệm là hướng từ Vòng xoay Phường F về cầu H, chọn mép đường bên phải làm cố định hướng khám nghiệm, chọn Trụ điện Số 65 nằm trên dải phân cách cố định giữa hai phần đường làm điểm mốc cố định hiện trường.

Quá trình khám nghiệm ghi nhận: Xe mô tô Biển số 71B3 - 753.62 nằm ở làn đường dành cho xe ô tô, xe ngã về bên phải, đầu xe hướng vào dải phân cách, đuôi xe hướng vào mép đường bên phải; tâm trục bánh xe trước cách mép đường bên phải 8,9m, tâm trục bánh xe sau cách mép đường bên phải 8,5m, cách tâm trục bánh xe sau xe mô tô Biển số 71L1 - 099.50 là 6,3m. Xe mô tô Biển số 71L1 - 099.50 nằm ở làn đường dành cho cho xe mô tô, xe ngã về bên trái, đầu xe hướng cầu H, đuôi xe hướng về Vòng xoay Phường F, tâm trục bánh xe trước cách mép đường bên phải 1,4m, tâm trục bánh xe sau cách mép đường bên phải 2,15m, cách điểm cuối Vết cày Thứ Nhất 5,2m. Vết cày thứ nhất: nằm ở làn đường dành cho xe mô tô và xe ô tô, có chiều dài 20,8m, rộng 0,65m; đầu vết cày hướng về V xoay Phường F, cuối về cày hướng về cầu H; đầu vết cày cách mép đường bên phải 5,9m, cách Trụ điện Số 65 là 11,95m, cuối vết cày cách mép đường bên phải 3,15m. Vết cày thứ hai: có chiều dài 3,2m, rộng 0,35m, nằm ở làn đường dành cho xe ô tô; đầu vết cày Thứ Hai cách đầu vết cày Thứ Nhất 5,4m, cách mép đường bên phải 6,85m; cuối vết cày Thứ Hai cách mép đường bên phải 7,05m. Vết cày thứ ba: có chiều dài 7,0m, rộng 0,1m nằm ở làn đường dành cho xe ô tô; đầu vết cày Thứ Ba cách cuối vết cày Thứ Hai 10,35m, cách mép đường bên phải 10.02m; cuối vết cày cách mép đường bên phải 8,65m.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện đối với xe mô tô Biển số 71B3-753.62 ghi nhận như sau: Phần ốp nhựa phía trước tay lái bị vỡ, bung hở khỏi vị trí ban đầu. Đèn chiếu sáng bị vỡ rời khỏi ốp nhựa phía trước đầu tay lái. Mặt ngoài ốp nhựa có vết ma sát, mài mòn kích thước dài 20cm, rộng 12cm; Phần ốp nhựa (mặt nạ) phía trước khung xe bị vỡ, rời khỏi vị trí ban đầu; đèn tín hiệu chuyển hướng cạnh ốp mặt nạ bị vỡ; Phần nhựa cánh yếm bên phải bị vỡ rời khỏi vị trí ban đầu; Phần nhựa cánh yếm bên trái bị vỡ rời khỏi vị trí ban đầu; Phần nhựa cung chắn bùn trước bị nứt, vỡ. Mặt ngoài phía trước có vết ma sát, trầy xước kích thước dài 39cm, rộng 25cm; Hai trụ giảm sóc phía trước bị cong lệch từ trước ra sau, từ ngoài vào trong; Bộ phận vành xe của bánh trước có 02 vết cong thụng. Vết Thứ Nhất có kích thước dài 20cm, rộng 0,5cm hướng vào tâm trục bánh trước, cách van xúp páp 20cm; vết Thứ Hai có kích thước dài 13cm, rộng 0,5cm hướng vào tâm trục bánh trước; điểm gần nhất cách van xúp páp 35cm, điểm xa nhất cách van xúp páp 36cm; Phần ốp nhựa phía trên sàn để chân bị nứt, vỡ, bung hở khỏi vị trí ban đầu; Phần ốp nhựa bên phải, phía dưới sàn để chân bên phải bị bung hở khỏi vị trí ban đầu; Phần ốp nhựa bảo vệ gầm xe bị bung, vỡ rời khỏi vị trí ban đầu; Phần ốp nhựa bên phải thân xe phía dưới yên bị bung hở. Mặt ngoài có vết ma sát mài mòn có kích thước dài 30cm, rộng 02 cm; Tay nắm dắt phía sau bị vỡ rời khỏi vị trí ban đầu; Mặt ngoài bên phải của chân chống đứng có vết mài mòn kim loại có kích thước dài 2,5cm, rộng 0,1cm; Cụm đèn phanh, đèn chuyển hướng phía sau bị vỡ rời khỏi vị trí ban đầu; Phần ốp nhựa bên trái thân xe phía dưới yên bị bung vỡ rời khỏi vị trí ban đầu.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện đối với xe mô tô Biển 71L1- 099.50 ghi nhận như sau: Phần ốp nhựa cạnh đèn tín hiệu bên trái và mặt ngoài đèn tín hiệu phía trước có vết ma sát, mài mòn kích thước dài 12cm, rộng 05cm; Cục cao su tay nắm lái bên trái có vết mài mòn kích thước dài 2,5cm, rộng 02cm; Góc bên trái mặt nạ phía trước có vết ma sát kích thước dài 11cm, rộng 02cm; Cánh yếm bên trái có vết ma sát kích thước dài 29cm, rộng 21cm; Mặt ngoài gác chân trước bên trái có vết mài mòn kim loại kích thước dài 3,5cm, rộng 0,5cm; Ốp nhựa bên trái thân xe có vết ma sát, mài mòn kích thước dài 27cm, rộng 23cm; Dây sên bị tuột khỏi vị trí ban đầu; Mặt ngoài bên trái tay nắm dắt phía sau có vết ma sát, mài mòn kim loại kích thước dài 07cm, rộng 2,5cm; Khung kim loại hình chứ U (gắp) gắn bánh xe sau bên trái bị cong lệch theo hướng từ trái sang phải, từ sau ra trước. Mặt ngoài phía sau khung kim loại bị cong thụng và có vết ma sát, mài mòn kích thước dài 05cm, rộng 03cm.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi Số 63/24/KLGĐTT-TTPYBT ngày 12/11/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế kết luận đối với nạn nhân Nguyễn Vinh H2: Các kết quả chính: Cơ thái dương phải: xuất huyết tụ máu; Xương hộp sọ: nứt sọ vùng đỉnh - thái dương phải dài 09cm; Màng cứng sung huyết; Xuất huyết dưới màng cứng; Xuất huyết dưới nhện hai bán cầu đại não; Dập não vùng thái dương đỉnh trái; Xuất huyết trong não. Kết luận: nguyên nhân tử vong: chấn thương sọ não.

Kết quả xét nghiệm ngày 20/10/2024 của Bệnh viện Đ, tỉnh Bến Tre đối với Nguyễn Thanh H có định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 214 mg/100mL. Nguyễn Thanh H có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 26/6/2020.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5- Vĩnh Long) đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/5/2025, bị cáo Nguyễn Thanh H kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung của bản án sơ thẩm.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bị cáo nói lời sau cùng: Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thanh H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã xác định rằng: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19/10/2024, Nguyễn Thanh H là người có giấy phép lái xe theo quy định, sau khi đã sử dụng rượu, bia (nồng độ cồn trong máu là 214mg/100mL) điều khiển xe mô tô Biển số 71B3 - 753.62 chở Nguyễn Vinh H2 ngồi sau lưu thông trên Quốc lộ F hướng từ V xoay Phường F về Cầu H, khi đến Km17, thuộc địa phận ấp B, xã B, thành phố B do không chú ý quan sát phương tiện lưu thông phía trước va chạm vào xe mô tô Biển số 71L1 - 099.50 do Lê Văn Ngọc L điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả Nguyễn Vinh H2 bị thương nặng được đưa vào Bệnh viện Đ, tỉnh Bến Tre cấp cứu và tử vong vào lúc 18 giờ 20 phút ngày 20/10/2024 tại nhà do bị chấn thương sọ não, anh L không bị thương tích gì. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật, không oan sai.

Xét kháng cáo của bị cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Đồng thời, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đã có xem xét chiếu cố đáng kể khi quyết định hình phạt. Mặt khác, lỗi trong vụ tai nạn giao thông này hoàn toàn thuộc về bị cáo, đã điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ tham gia giao thông nhưng không chấp hành các quy định khi tham gia giao thông đường bộ, điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, thiếu chú ý quan sát gây ra vụ tai nạn giao thông làm anh Nguyễn Vinh H2 tử vong, gây mất mác đau thương vô hạn cho gia đình nạn nhân không gì bù đắp được. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị xử phạt bị cáo 02 năm tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm, theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ