- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Duy Ngh - Lường Thị H "Xác định cha cho con""
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Duy Ngh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST Ngày 11 - 12 - 2025. V/v “Xác định cha cho con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
Bà Trần Thị Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 163/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 về việc “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Đào Duy Ngh, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Sơn D, tỉnh Tuyên Quang; có mặt.
2. Bị đơn: Chị Lường Thị H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Ninh Bình; có đơn đề nghị vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Văn D, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Ninh Bình.
Hiện đang cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Ninh Bình (đóng tại phường T, tỉnh Ninh Bình); có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 10 năm 2025 và các lời khai tại Tòa án, anh Đào Duy Ngh là nguyên đơn trình bày:
Đầu năm 2024, anh và chị Lường Thị H có quan hệ yêu đương, tìm hiểu nhau và chị H đã mang thai với anh. Ngày 03/9/2025, chị H sinh một bé trai, anh chị dự kiến đặt tên cho cháu là Đào Quyết T. Anh và cháu Đào Quyết T đã làm xét nghiệm ADN để xác định quan hệ huyết thống, kết quả xét nghiệm ADN của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền - GENLAB kết luận: “Đào Duy Ngh có quan hệ huyết thông bố - con với người có tên dự kiến Đào Quyết T, độ tin cậy > 99,9999%”. Anh và chị H dự kiến sau khi sinh con, sẽ đăng ký kết hôn và làm khai sinh cho con. Tuy nhiên do khi chị H mang thai với anh trong khi chưa ly hôn với chồng cũ là anh Dương Văn D (Chị H và anh D đã ly hôn ngày 30/5/2025) nên anh chưa làm được giấy khai sinh cho cháu Đào Quyết T với tư cách là cha đẻ của cháu T. Nay anh đề nghị Tòa án xem xét giải quyết xác định anh là cha đẻ của người có tên dự kiến là cháu Đào Quyết T, sinh ngày 03/9/2025.
Tại bản tự khai ngày 14/11/2025, chị Lường Thị H là bị đơn trình bày: Chị và anh Dương Văn D tự nguyện kết hôn năm 2004 tại UBND xã Thụy Lôi, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tam Chúc, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hòa thuận được đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh D nghiện ma túy, chị khuyên can nhiều lần nhưng anh D không nghe khiến mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Chị và anh D sống ly thân từ năm 2018. Đến ngày 30/5/2025, chị và anh D đã chính thức ly hôn theo bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 30/5/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Tuy nhiên, trong thời gian sống ly thân với anh D, đầu năm 2024, chị có quan hệ yêu đương, tìm hiểu với anh Đào Duy Ngh. Đầu năm 2025, chị đã mang thai với anh Ngh khi chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh D. Ngày 03/9/2025, chị đã sinh một bé trai, dự kiến đặt tên cho cháu là Đào Quyết T. Mặc dù chị có thai trong thời kỳ hôn nhân với anh D, nhưng cháu T là con đẻ của anh Ngh. Anh Ngh và cháu T đã làm xét nghiệm ADN để xác định quan hệ huyết thống, kết quả xét nghiệm ADN của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền - GENLAB kết luận: “Đào Duy Ngh có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Đào Quyết Tiến, độ tin cậy > 99,9999%”. Nay anh Ngh yều cầu Tòa án xác định anh Ngh là cha đẻ của cháu T chị hoàn toàn nhất trí. Do chị mới sinh con, sức khỏe còn yếu, lại đang chăm sóc con nhỏ nên chị xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án.
Tại bản tự khai ngày 17/11/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn D trình bày, anh và chị H tự nguyện kết hôn năm 2004 tại UBND xã Thụy Lôi, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tam Chúc, tỉnh Ninh Bình). Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2018. Tháng 12/2024, anh đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 - Ninh Bình. Anh và chị H đã chính thức ly hôn theo bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 30/5/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Anh khẳng định cháu T không phải con của anh. Nay anh Ngh đề nghị Tòa án xác định cháu T là con đẻ của anh Ngh, anh đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bầy và không thay đổi bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ và các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 88, 89, 101, 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử 1. Xác định Anh Đào Duy Ngh, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã S, tỉnh Tuyên Quang là cha đẻ của người có tên dự kiến Đào Quyết T, sinh ngày 03/9/2025, theo giấy chứng sinh số 1888 do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 03/9/2025. 2. Về án phí: Anh Đào Duy Ngh được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng quan điểm đề nghị về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của anh Đào Duy Ngh yêu cầu Tòa án giải xác định anh là cha đẻ của người có tên dự kiến Đào Quyết T do chị Lường Thị H sinh ra ngày 03/9/2025, chị H là bị đơn có địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân khu vực 5 - Ninh Bình. Chị Lường Thị H, anh Dương Văn D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đây là trường hợp đương sự vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án anh Đào Duy Ngh xác định đầu năm 2024, anh và chị Lường Thị H có quan hệ tình cảm yêu đương, đến ngày 03/9/2025, chị H đã sinh con, anh và chị Hậu dự kiến đặt tên con là Đào Quyết T. Tại Kết quả xét nghiệm ADN số 251788GL/AND ngày 06/10/2025 của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền - GENLAB kết luận: “Đào Duy Ngh có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Đào Quyết T, độ tin cậy > 99,9999%”. Bị đơn chị Lường Thị H thừa nhận người có tên dự kiến Đào Quyết T là con đẻ của anh Đào Duy Ngh. Anh Dương Văn D xác định người có tên dự kiến Đào Quyết T không phải là con đẻ của anh mặc dù chị H mang thai cháu T khi chưa ly hôn với anh. Căn cứ vào lời khai của các đương sự cũng như kết quả phân tích ADN thì yêu cầu khởi kiện của anh Đào Duy Ngh là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 88, 89, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 nên được Hội đồng xét xử được chấp nhận.
Anh Đào Duy Ngh yêu cầu Tòa án xác định anh là cha đẻ của người có tên dự kiến Đào Quyết T, sinh ngày 03/9/2025, không yêu cầu xem xét, giải quyết vấn đề nào khác nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh Đào Duy Ngh được miễn toàn bộ lệ phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 88, Điều 89, Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Duy Ngh.
Xác định anh Đào Duy Ngh, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã S, tỉnh Tuyên Quang là cha đẻ của người có tên dự kiến Đào Quyết T, sinh ngày 03/9/2025, theo giấy chứng sinh số 1888 do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 03/9/2025.
2. Về án phí: Anh Đào Duy Ngh được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Anh Ngh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị H, anh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; - UBND phường Tam Chúc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |