- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quách Thị Mộng Thường - Danh Lâm Hưng"
- Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/6/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM – TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Mỹ Xuân
Ông Hoàng Văn Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Diễm Trinh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Niềm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 04 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Quách T, sinh ngày 14/10/2001 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 16/12/2022
- Bị đơn: Anh Dương H, sinh ngày 22/4/1996 (Có mặt)
Địa chỉ: Số nhà 136, khóm A, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 19/5/2024
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo đơn khởi kiện lập ngày 09/4/2025, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Quách T trình bày:
Chị và anh Dương H đăng ký kết hôn vào ngày 06/5/2021 tại Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã N, tỉnh S. Thời gian đầu khi mới sống chung với nhau thì vợ chồng chị sống rất vui vẻ, hạnh phúc, thời gian về sau chị và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn ngày càng gay gắt, chị và anh H đã hết tình cảm, không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh H đã ly thân với nhau từ ba tháng nay. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Dương H. Chị T xin vắng mặt khi xét xử.
Về con chung: Chị và anh Dương H có một con chung tên Dương Y, sinh ngày 19/11/2021, hiện cháu Y đang sống chung với chị T, chị T yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng: không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
2/ Tại phiên tòa bị đơn anh Dương H trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Quách T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã N, tỉnh S. Sau khi cưới thì hai vợ chồng sống chung đã có một con chung là cháu Dương Y, sinh ngày 19/11/2021, hiện nay cháu Y đang sống chung với chị T. Quá trình sống chung thì vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn, không hợp nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Tại phiên tòa anh cũng đồng ý ly hôn với chị Quách T. Về con chung anh đồng ý giao con chung cháu Y cho chị T nuôi dưỡng nhưng anh phải được rước con về nhà nội chơi bất cứ lúc nào, anh không cấp dưỡng nuôi con, khi nào có tiền bao nhiêu thì cho con bấy nhiêu. Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng ông không yêu cầu xem xét.
3/ Tại phiên tòa, vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn có mặt đã chấp hành đúng quy định triệu tập của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên phát biểu về tính có căn cứ và yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh H. Về con chung: Giao cháu Dương Y, sinh ngày 19/11/2021 cho chị T nuôi dưỡng; Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Hưng theo quy định của pháp luật; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Quách T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương H và chị Quách T là những người có đầy đủ điều kiện kết hôn, ông bà tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã N, tỉnh S và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong cuộc sống hôn nhân giữa anh H và chị T, theo chị T cho rằng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn cãi vã, chị thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau như vợ chồng được nữa nên nhất định giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Dương H; Còn anh H trình bày giữa anh và chị T cũng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, tại phiên tòa thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị T. Xét thấy, nền tảng của mối quan hệ hôn nhân vững chắc là việc vợ chồng yêu thương nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong cuộc sống vợ chồng của anh H và chị T đã không còn sự quan tâm dành cho nhau, chị T yêu cầu ly hôn, anh H cũng đồng ý ly hôn, tình trạng mâu thuẫn giữa anh H và chị T là trầm trọng không thể khắc phục. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh H.
Về con chung: Anh Dương H và chị Quách T có một con chung là cháu Dương Y, sinh ngày 19/11/2021, theo chị T và anh H thống nhất trình bày thì hiện nay cháu Ý đều do chị Thường trực tiếp nuôi dưỡng, chị Thường yêu cầu được Y nuôi con, anh H đồng ý giao con chung cho chị T nuôi dưỡng. Xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Giữa anh H và chị T thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc giao con chung cháu Y cho chị T nuôi, phù hợp môi trường sống của cháu Y, không làm xáo trộn môi trường sống của cháu và không làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu cho nên Hội đồng xét xử ghi nhận và quyết định giao cháu Y cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật cho anh H không ai được quyền ngăn cản.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 của Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Quách T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng chị Quách T được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009838 ngày 09/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm. Anh Dương H không phải chịu án phí.
Đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm về hướng giải quyết vụ án nêu trong phần nội dung vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 của Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách T.
1/ Về quan hệ hôn nhân: chị Quách T được ly hôn với anh Dương H.
2/ Về con chung: Giao cháu Dương Y, sinh ngày 19/11/2021 cho chị Quách T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Dương H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: chị Quách T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3/ Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4/ Về án phí sơ thẩm: chị Quách T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị Quách T được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009838 ngày 09/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm. Anh Dương H không phải chịu án phí.
5/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Ngã Năm; - CCTHADS thị xã Ngã Năm; - Các đương sự; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - UBND Phường B, TXNN; - Lưu VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Vàng |