vanban.org

Bản án 43/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quàng Thị H đối với anh Lò Văn Q.

Xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn anh Lò Văn Q. Về con chung: Giao các con chung là Lò Mạnh T, sinh ngày 30/06/2013 và Lò Văn Q, sinh ngày 29/04/2016 cho anh Lò Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Quàng Thị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA LY HÔN QUÀNG THỊ H- LÒ VĂN QC"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quàng Thị H đối với anh Lò Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 5 - 2025
V/v :“Xin ly hôn, tranh chấp về
nuôi con"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần hội đồng xét xử S thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Lô Văn Long

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Kiên; bà Phạm Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Quàng Văn Cuộc – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sn La xét xử S thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 69/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định xét xử số: 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Quàng Thị H, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Bản Đ, xã Chiềng S, huyện Sông M, tỉnh Sn La; Vắng mặt

- Bị đơn: Anh Lò Văn Q, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Bản Đ, xã Chiềng S, huyện Sông M, tỉnh Sn La; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 02 năm 2025 và bản tự khai nguyên đơn chị Quàng Thị H trình bày:

Tôi và anh Lò Văn Q kết hôn với nhau năm 2013, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn do UBND xã Mường Lầm, huyện Sông Mã cấp ngày 05/9/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Sau khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện, vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm 2022, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Từ những mâu thuẫn nêu trên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lò Văn Q.

- Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 người con chung là Lò Mạnh T, sinh ngày 30/06/2013 và Lò Văn Q, sinh ngày 29/04/2016. Hiện nay các con đang ở với bố tại Bản Đ, xã Chiềng S, huyện Sông Mã, tỉnh Sn La. Khi ly hôn, tôi vẫn để hai con được ở với bố là anh Lò Văn Q. Tôi không cấp dưỡng nuôi con cùng.

- Về tài sản chung: Không kê khai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Không kê khai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lò Văn Q: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Lò Văn Q hợp lệ nhiều lần theo đúng quy định nhưng anh Phương không có mặt để giải quyết việc ly hôn tại Tòa án, do vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Q về yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Quàng Thị H đối với anh.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; Quá trình xét xử Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Pháp luật và các thủ tục. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ thời điểm thụ lý vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn với anh Lò Văn Q.

Về con chung: Giao các con chung là Lò Mạnh T, sinh ngày 30/06/2013 và Lò Văn Q, sinh ngày 29/04/2016 cho anh Lò Văn Q được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh Q. Chị H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Quàng Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ S và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về pháp luật tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Chị Quàng Thị H khởi kiện đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lò Văn Q và yêu cầu nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Lò Văn Q có nơi cư trú tại huyện Sông Mã, tỉnh Sn La, do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sn La theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về việc không hòa giải: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được, nên Tòa án giải quyết theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Đối với bị đơn đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ theo đúng quy định nhưng bị đơn không có mặt nên Tòa án giải quyết theo thủ tục chung và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị H và anh Lò Văn Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mường Lầm, huyện Sông Mã, tỉnh Sn La cấp ngày 05/9/2013, căn cứ khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Qua các chứng cứ và tài liệu có trong hồ S vụ án cho thấy mâu thuẫn gia đình giữa chị H và anh Q xuất phát từ việc hai vợ chồng tính cách khác nhau, không cùng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, dẫn đến gia đình không hạnh phúc. Anh Lò Văn Q không có mặt tại Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị Quàng Thị H thể hiện ý chí thiếu trách nhiệm, không còn quan tâm đến cuộc sống chung của gia đình và không có hành động gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại biên bản xác minh ngày 04/03/2025 chính quyền địa phương xác nhận hai vợ chồng chị H và anh Q có cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, không còn quan tâm tới nhau. Xét mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng và cuộc sống chung không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho chị H ly hôn với anh Q là có căn cứ, phù hợp với Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Về con chung: Chị Quàng Thị H và anh Lò Văn Q có 02 con chung là Lò Mạnh T, sinh ngày 30/06/2013 và Lò Văn Q, sinh ngày 29/04/2016. Chị Quàng Thị H có nguyện vọng muốn để hai con được ở cùng bố, chị H không phải cấp dưỡng nuôi cùng anh Q. Hiện tại cả 02 con chung đều đang sinh sống cùng anh Q. Tại biên bản ghi ý kiến ngày 10/4/2025 đối với các cháu Lò Mạnh T và Lò Văn Q thì cháu T và cháu Q đều có nguyện vọng được ở cùng với bố. Do vậy, cần giao các cháu Lò Mạnh T, sinh ngày 30/06/2013 và Lò Văn Q, sinh ngày 29/04/2016 cho anh Lò Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành phù hợp với Điều 81, 82, 83,84 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Quàng Thị H khai nhận không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Quàng Thị H phải chịu án phí ly hôn S thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Q hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quàng Thị H đối với anh Lò Văn Q.

Xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn anh Lò Văn Q.

2. Về con chung: Giao các con chung là Lò Mạnh T, sinh ngày 30/06/2013 và Lò Văn Q, sinh ngày 29/04/2016 cho anh Lò Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Quàng Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh Q. Chị H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không kê khai, không đề nghị giải quyết trong vụ án này.

4. Về nợ chung: Không kê khai, không đề nghị giải quyết.

5. Về án phí: Chị Quàng Thị H phải nộp án phí xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002460 ngày 20/02/2025 tại Chi cục thi hành án huyện Sông Mã, tỉnh Sn La. Chị H đã nộp đủ án phí

6. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị H, anh Lò Văn Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ