vanban.org

Bản án 43/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 02/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ Luật hình sự đối với Lò Văn N.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Dương Khắc H và Quàng Văn N1 về t…"
  • Tòa quyết gì? Điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ Luật hình sự đối với Lò Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HSST
Ngày: 02/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quyết Thắng và bà Nguyễn Thị Ngọc Hoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thoa - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 02/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 06/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 20/3/2024 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn N; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; Sinh năm: 2000; Nơi sinh: huyện TU, tỉnh LC; Nơi đăng ký HKTT: Bản ÉN, xã MT, huyện TU, tỉnh LC Chỗ ở: thôn NL, xã LH, huyện VG, tỉnh HY; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lò Văn T và bà Vàng Thị M (Biệt tích từ năm 2002 đến nay); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo N bị tạm giữ từ ngày 18/9/2023 đến ngày 21/9/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

2. Dương Khắc H; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; Sinh năm: 1985; Nơi sinh: huyện VC, tỉnh YB; Nơi đăng ký HKTT: Phố 8, phường TD, thành phố TH, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Dương Khắc T1 và bà Dương Thị C; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Chưa có; Tiền sự: Ngày 13/8/2021, H bị TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến ngày 08/4/2023 H đã chấp hành xong. Nhân thân: Năm 2009, bị TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. H chấp hành xong bản án năm 2012. Bị cáo H bị tạm giữ từ ngày 18/9/2023 đến ngày 21/9/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

3. Quàng Văn N1; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; Sinh năm: 2003; Nơi sinh: huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB; Nơi đăng ký HKTT: Bản CL, xã PG, huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Quàng Văn S và bà Lò Thị P; Vợ, con: chưa có; Tiền án; Tiền sự: Chưa có. Bị cáo N1 bị tạm giữ từ ngày 18/9/2023 đến ngày 21/9/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

*Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn N1:

Ông Đào Văn H – Luật sư thực hiện hợp đồng trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên (có mặt)

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Lê Thị Thanh T2 sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố LM, thị xã TH, huyện NS, thành phố TH

* Người làm chứng:

- Anh Cầm Văn H1, sinh năm 2001(Vắng mặt)

Địa chỉ: Bản M, xã TG, huyện TU, tỉnh LC

- Anh Lìm Văn N2 sinh năm 2004 (Vắng mặt)

Địa chỉ: bản CP, xã MC, huyện TU, tỉnh LC

- Chị Cao Thị Chung T3, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N L, xã Lư, huyện VG tỉnh HY

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 10 phút ngày 18/9/2023, lực lượng Công an xã Long Hưng, huyện Văn Giang phối hợp với tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện Văn Giang, tiến hành tuần tra trên tuyến đường của thôn Như Lân, xã Long Hưng, thì phát hiện Quàng Văn N1, sinh năm 2003, HKTT: bản CL, xã PG, huyện ĐBĐ, tỉnh ĐB đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 36B3-998.10, chở Dương Khắc H, sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú: thôn 8, phường TD, thành phố TH, tỉnh TH, có biểu hiện nghi vấn. Tổ tuần tra đã yêu cầu N1 dừng xe để kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại lòng bàn tay trái của H 01 gói nilon màu trắng kích thước (1,5 x 2)cm, có khóa bóp viền màu đỏ, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu “M1”. Thu của N1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, bên trong có 01 sim; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 36B3-998.10. H và N1 khai nhận chất màu trắng dạng cục và bột trong túi nilon là ma túy loại Heroine do cả 2 góp tiền mua của Lò Văn N, sinh năm 2000, HKTT: Bản ÉN, xã MT, huyện TU tỉnh LC, đang thuê trọ tại nhà ông Bùi Văn T ở thôn Như Lân, xã Long Hưng, huyện Văn Giang. Cùng ngày, Công an xã Long Hưng đã bàn giao Quàng Văn N1 và Dương Khắc H cùng với hồ sơ vụ việc và vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Văn Giang để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn N, tại phòng trọ số 2 của gia đình ông T ở thôn Như Lân, xã Long Hưng. Kết quả khám xét đã thu bên dưới chiếc chiếu ở vị trí N đang ngồi 01 túi nilon màu trắng, kích thước (5 x 8,5)cm, có khóa bóp viền màu đỏ, bên trong có 02 túi nilon màu trắng kích thước như nhau (1,5 x 2)cm, đều có khóa bóp viền màu đỏ; 01 gói giấy bạc; 13 gói nilon màu xanh; 08 gói nilon màu trắng, tất cả đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (4 x 7,5)cm, có khóa bóp viền màu đỏ, chứa chất màu trắng dạng cục và bột. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu “K”. Ngoài ra còn thu giữ của N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, có 01 sim và số tiền 400.000đ.

Tại Bản kết luận giám định số 519/KL-KTHS(MT) ngày 21/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có tổng khối lượng là 0,212g, là ma tuý loại Heroine; mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu K, có tổng khối lượng là 4,858g, là ma tuý loại Heroine.

Quá trình điều tra xác định: Quàng Văn N1 và Dương Khắc H có mối quan hệ quen biết nhau và thường xuyên sử dụng chất ma túy loại Heroine. Qua các đối tượng nghiện ma túy, Hùng biết Lò Văn N bán ma túy loại Heroine và xin được số điện thoại của N. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, H rủ N1 góp mỗi người 200.000đ đi mua ma túy để sử dụng, thì N1 đồng ý và đưa cho H 200.000đ. H mượn điện thoại nhãn hiệu Nokia của N1, số thuê bao 0397727157, gọi đến số điện thoại 0818654132 của N hỏi mua 400.000đ ma túy, loại Heroine. N đồng ý và hẹn địa điểm giao ma túy tại phòng trọ của N ở thôn Như Lân, xã Long Hưng, huyện Văn Giang. Sau đó, N1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 36B3-998.10, chở H đến phòng trọ của N. H và N1 cùng vào phòng trọ của N, H đưa cho N 400.000đ, N đưa cho H 01 túi nilon bên trong đựng ma túy, loại Heroine. H cầm gói ma túy ở tay trái, N1 điều khiển xe mô tô chở Hđi tìm chỗ để sử dụng, thì bị Công an xã Long Hưng và tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện Văn Giang bắt quả tang như đã nêu trên. Trước đó, vào ngày 17/9/2023 H và N1 đã sử dụng ma túy tại cánh đồng xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang; ngày 18/9/2023 N sử dụng ma túy tại phòng trọ.

N khai nhận, số ma túy Cơ quan điều tra thu được tại phòng trọ của N và số ma túy N đã bán cho H và N1 là của một đối tượng có tên là V (không rõ nhân thân, lai lịch). V cho N ở trọ cùng phòng và thuê N bán ma túy, mỗi ngày V trả N 400.000đ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số: 36B3-998.10, quá trình điều tra xác định xe đăng ký mang tên chị Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú: tổ dân phố LV, phường TH, thị xã NS, tỉnh TH. Chị T1 giao xe cho chồng là anh Lê Quang T3 để làm phương tiện đi lại. Ngày 18/9/2023, anh T3 cho N1 mượn chiếc xe trên, nhưng không biết N1 đã sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nên ngày 03/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang đã trả lại chị T1 chiếc xe mô tô trên. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của Nvà điện thoại nhãn hiệu Nokia thu giữ của N, qua kiểm tra đều thể hiện đã sử dụng vào việc liên hệ mua bán ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang đã niêm phong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng trong phong bì ký hiệu K1 và niêm phong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh trong phong bì ký hiệu QH.

Ngày 13/01/2024, Công an huyện Văn Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn N, Quàng Văn N1 và Dương Khắc H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người có tên là V, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để cơ quan điều tra xác minh, xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKSVG ngày 06/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã truy tố ra xét xử Lò Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Dương Khắc H và Quàng Văn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Các Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo N1, bị cáo N xin được miễn án phí.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX:

Căn cứ:

- Điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ Luật hình sự đối với Lò Văn N.

- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 58 của Bộ Luật hình sự đối với Dương Khắc H và Quàng Văn N1.

- Khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Dương Khắc H và Quàng Văn N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy”

Xử phạt : Lò Văn N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2023.

Xử phạt bị cáo Dương Khắc H từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2023.

Xử phạt Quàng Văn N1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong được hoàn mẫu vật sau giám định số 519/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên bên trong chứa 0,185g ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 4,796g ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu K; các vỏ túi nilon, các mảnh túi nilon, mảnh giấy bạc và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; Tịch thu phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu QH bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 400.000 đồng.

Buộc bị cáo H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo N1, bị cáo N.

Người bào chữa cho N1 nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét vai trò của bị cáo N1 là thứ yếu, bị cáo thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải xử phạt bị cáo N1 mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và miễn án phí cho bị cáo.

Các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những làm chứng vắng mặt không có lý do, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo N1 và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy những người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

. Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 18/9/2023, tại đường thôn Như Lân, xã Long Hưng, huyện Văn Giang; Công an xã Long Hưng phối hợp với tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện Văn Giang bắt quả tang Dương Khắc H và Quàng Văn N1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu tại lòng bàn tay trái của H 01 túi nilon chứa 0,212g ma túy loại Heroine. Số ma túy này do H và N1 góp chung mỗi người 200.000đ để mua của Lò Văn N ở trọ tại thôn Như Lân, xã Long Hưng để sử dụng. Hồi 14 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang khám xét khẩn cấp chỗ ở của N ở thôn Như Lân, xã Long Hưng, thu giữ tổng cộng 4,858g ma túy loại Heroine. Mục đích N cất giấu số ma túy trên để bán kiếm lời. Tổng số ma túy Ng cất giấu để bán và đã bán cho cho H là 5,070g. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự . Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo Lò Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Dương Khắc H và Quàng Văn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất gây nghiện, tiếp tay cho các đối tượng mua bán và sử dụng chất ma túy, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người sử dụng chất ma túy, để thỏa mãn nhu cầu của mình đã bất chấp tác hại của ma túy đối với bản thân, đối với cộng đồng, bất chấp pháp luật cố ý mua bán ma túy, tàng trữ trái phép ma túy . Chứng tỏ các bị cáo rất liều lĩnh, coi thường pháp luật. Vì vậy việc xử phạt các bị cáo không chỉ nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo mà còn nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm về ma túy đã đồng thời còn nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong quần chúng nhân dân, để từ đó có thái độ tôn trọng pháp luật, phối hợp cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh phòng, chống và loại trừ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội, góp phần giữ gìn an ninh chính trị và an toàn xã hội.

. Về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về vai trò: Bị cáo N cất giấu 4,858g ma túy loại Heroine mục đích để bán cho người khác kiếm lời và đã bán 0,212g Heroine cho H nên bị cáo N đã phạm tội độc lập về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo H rủ N1 góp tiền mua ma túy và N1 đồng ý góp 200.000đ đưa cho H để mua ma túy của N mục đích để sử dụng nên H và N1 đồng phạm thực hiện tội phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong đó H là người rủ rê, trực tiếp liên hệ, giao dịch mua được ma túy của N nên H giữ vai trò chính, N1 giữ vai trò thứ yếu.

Về nhân thân: Các bị cáo đều là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma túy. Bị cáo N và N1 chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo N1 thuộc hộ nghèo, bị cáo N và N1 đều là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; Bị cáo H có nhân thân xấu, có tiền sự bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã chấp hành xong ngày 08/4/2023 và năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ quy định của pháp luật, vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy các bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do hám lời từ việc bán ma túy và để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm, tội phạm bị cáo N thực hiện là rất nghiêm trọng, tội phạm bị cáo H và N1 thực hiện là nghiêm trọng nên cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, giúp các bị cáo cai nghiện được ma túy, cũng như góp phần phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với đối tượng tên là V, N khai là người đưa ma túy cho N bán và trả công do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 13/01/2024, Cơ quan Công an huyện Văn Giang đã xử phạt vi phạm hành chính đối với các bị cáo là chính xác nên không đặt ra xem xét.

. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số: 36B3-998.10, quá trình điều tra xác định xe đăng ký mang tên chị Lê Thị Thanh T1, Chị T1 giao xe cho chồng là anh Lê Quang T3 để làm phương tiện đi lại. Ngày 18/9/2023, anh T3 cho N1 mượn chiếc xe trên, nhưng không biết N1 đã sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nên ngày 03/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang đã trả lại chị T1 chiếc xe mô tô trên là chính xác nên không giải quyết.

- Đối với 01 phong bì niêm phong được hoàn mẫu vật sau giám định số 519/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên bên trong chứa 0,185g ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 4,796g ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu K; các vỏ túi nilon, các mảnh túi nilon, mảnh giấy bạc và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu QH bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ tịch thu phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước.

-Đối với số tiền 400.000đ thu giữ của N đây là tiền thu lợi bất chính do bị cáo bán ma túy có được nên sẽ tịch thu sung vào Ngân sách Nhà Nước.

. Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; Bị cáo N, N1 là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo N1 thuộc hộ nghèo, bị cáo N, N1 xin được miễn án phí nên sẽ miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo N, N1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ :

-Điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ Luật hình sự đối với Lò Văn N.

-Khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 58 của Bộ Luật hình sự đối với Dương Khắc H và Quàng Văn N1.

-Khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 BLHS.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố:

Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo Dương Khắc H và Quàng Văn N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy”

3. Hình phạt:

Xử phạt : Lò Văn N 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2023.

Xử phạt bị cáo Dương Khắc H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2023.

Xử phạt Quàng Văn N1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2023.

4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 519/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên bên trong chứa 0,185g ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 4,796g ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu K; các vỏ túi nilon, các mảnh túi nilon, mảnh giấy bạc và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

- Tịch thu cho phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước 01 phong bì niêm phong ký hiệu QH bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh.

- Tịch thu phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước 01 phong bì niêm phong ký hiệu K1 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng.

- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà Nước 400.000đ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/02/2024 giữa Công an huyện Văn Giang với Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang và Ủy nhiệm chi giữa Công an huyện Văn Giang với Kho bạc Nhà nước huyện Văn Giang ngày 21/02/2024)

5. Về án phí: Bị cáo Dương Khắc H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn N và bị cáo Quàng Văn N1.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản bán hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Vũ Thu Giang

Cỡ chữ