vanban.org

Bản án 43/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với ông Lê Văn S.

Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Mỹ H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Bảo Song A, sinh ngày 04/5/2011 và Lê Bảo Song H1, sinh ngày 20/9/2014. Ông S không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không có yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Mỹ Huyền ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Lê Văn S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với ông Lê Văn S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-7-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 68/2024/TLVA-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo ết"Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 và ết"Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm: 1995 (có mặt).

Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Nơi ở hiện nay: Khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:

Bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Lê Văn S chung sống với nhau vào năm 2010, không tổ chức lễ cưới hỏi, đăng ký kết hôn ngày 21/11/2012 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, TP . - T. Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà ở riêng. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, xung đột, ông S nhiều lần đánh đập bà gây thương tích. Nguyên nhân vợ chồng không có tiếng nói chung, ợ"vợ chồng đã không sống chung với nhau từ ngày 11/02/2024 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng bà không gặp nhau, không ai đặt vấn đề quay lại sống chung.

Bà không còn tình cảm với ông S nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi ly hôn.

Bà và ông S có 02 người con chung: Lê Bảo Song A, sinh ngày 04/5/2011 và Lê Bảo Song H1, sinh ngày 20/9/2014. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con và không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lê Văn S: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông S nhưng ông S vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại"đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật ố"Tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Lê Văn S. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly"“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở xã T, TP . - T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

Bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Lê Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75/2012 ngày 21/11/2012, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Về quan hệ hôn nhân, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, từ khi kết hôn năm 2012 đến nay ông S, bà H phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, ông S nhiều lần bạo hành, đánh đập bà H. Ngày 25/3/2024, ông S có hành vi đánh đập bà H tại cầu B, thuộc thôn T, xã T, thành phố P - T sự việc đã được Công an xã T lập biên bản. Từ ngày 11/02/2024 đến nay bà H và ông S đã ly thân. Trong thời gian ly thân vợ chồng bà không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Ông S biết việc bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông S không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật ôn"Hôn nhân và Gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà H và ông S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Bà H và ông S có 02 con chung Lê Bảo Song A, sinh ngày 04/5/2011 và Lê Bảo Song H1, sinh ngày 20/9/2014. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu A và cháu H1 hiện đang ở với bà H, được chăm sóc, giáo dục tốt, 02, các con có nguyện vọng được ở với mẹ; Bà H có công việc và thu nhập ổn định (15.000.000 đồng/tháng) nên giao cháu A và cháu H1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà H không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 ị"Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ường"Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với ông Lê Văn S.

2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Mỹ H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Bảo Song A, sinh ngày 04/5/2011 và Lê Bảo Song H1, sinh ngày 20/9/2014. Ông S không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) à"bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000793 ngày 19 tháng 02 năm 2024 của C ục"Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Mỹ H đã nộp đủ"đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Cỡ chữ