vanban.org

Bản án 43/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn ông Nguyễn Thanh L.

Về con chung: Không có, không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết. 2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 000… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị M khởi kiện ly hôn ông Nguyễn Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn ông Nguyễn Thanh L.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/5/2024.
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đại. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Mỳ. 2. Bà Trần Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Thùy – Kiểm sát viên. Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Tổ A, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

(Bà M và ông L có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thanh L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/10/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vả làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay bà nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

- Về con chung: Bà và ông L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Thanh L trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị M tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/10/2013. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cãi vã, xung đột. Hiện nay vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Đến nay ông thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẩn đã đến mức trầm trọng. Nay bà M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông đồng ý ly hôn. Về con chung: Ông và bà M không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết * Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định Bộ luật tố Tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Bà M và ông L trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M. Về con chung: Bà M và ông L không có con chung nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

- Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Thanh L cư trú tại huyện V, tỉnh Đồng Nai, nên đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. [2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M và bị đơn ông Nguyễn Thanh L đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà M và ông L theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về hôn nhân: Bà M và ông L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai vào năm 2013, đã được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn, trên cơ sở tự nguyện. Căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, hôn nhân giữa bà M và ông L là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bà M có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông L nên Tòa án áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà M và ông L xảy ra từ khoảng năm 2022 đến nay. Bà M cho rằng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột; nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Giữa hai vợ chồng đã tìm cách hòa giải, khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Ông L thừa nhận vợ chồng ông đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, bà M xin ly hôn thì ông đồng ý. Từ những nhận định trên, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà M và ông L là có thật, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà M, bà M được ly hôn với ông L. [4] Về con chung: Bà M và ông L khai không có con chung nên không đặt ra xem xét. [5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà M và ông L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết. [6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà M phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp. [7] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Nguyễn Thị M.

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn ông Nguyễn Thanh L.

- Về con chung: Không có, không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết. 2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009144 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. 3. Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. 4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo luật định.

Cỡ chữ