vanban.org

Bản án 43/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ly hôn của chị Lò Thị T đối với anh Tòng Văn K .

Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Tòng Văn K . Về con chung: Giao cho anh Tòng Văn K g trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng nuôi, giáo dục con Tòng Minh T sinh ngày 09/7/2016 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Lò Thị Thư có quyền, nghĩa vụ thăm no… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chik Lò Thị Thư xin ly hôn anh Tòng Văn Khương"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ly hôn của chị Lò Thị T đối với anh Tòng Văn K .
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày 20 tháng 5 năm 2024
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Toàn

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân, ông Hà Văn Cương

- Thư ký phiên tòa:

Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa:

Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 82/2024/TLST - HNGĐ, ngày 27/02/2024 về việc Ly hôn - Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 16/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST - HNGĐ ngày 03/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lò Thị T - Sinh năm 2001. Nơi cư trú: Bản P, xã Y, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Tòng Văn K - Sinh năm 1997. Nơi cư trú: Bản P, xã Y, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 26/02/2024 và các tài liệu thể hiện lời khai, nguyên đơn chị Lò Thị Thư trình bày:

Chị và anh Tòng Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Yên Hưng, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cách sống của vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, anh K không quan tâm, chăm lo cho cuộc sống gia đình, chị đã khuyên bảo, hoà giải để hàn gắn nhưng vợ chồng không giải quyết được mâu thuẫn. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh K, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Kh.

Về con chung: Chị và anh K có một con là Tòng Minh T sinh ngày 09/7/2016, chị đề nghị anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không kê khai. Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Đối với anh Tòng Văn Khương:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập anh Tòng Văn K hợp lệ nhiều lần nhưng anh K đều không có mặt, do vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Kg đối với nội dung khởi kiện ly hôn của chị T đối với anh.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi các đương sự cư trú, xác định được chị T và anh Kg cư trú tại bản Pảng, xã Yên Hưng, huyện Sông Mã, anh chị kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, anh chị sống chung được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do anh K gây ra, anh K chơi bời không chăm lo cuộc sống gia đình, mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng vẫn không giải quyết được.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tại phiên toà:

Việc thụ lý xây dựng hồ sơ vụ án Tòa án huyện Sông Mã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hội đồng xét xử tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của chị T kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm xét xử đều thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Kg đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh K là đúng quy định pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lò Thị T đối với anh Tòng Văn K. Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Tòng Văn Kg.

Về con chung: Giao cho anh Tòng Văn Kg trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Tòng Minh T sinh ngày 09/7/2016 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. anh Kg không có ý kiến gì về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Do vậy không xem xét giải quyết cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có nợ chung, tài sản chung không kê khai, không yêu cầu giải quyết. Anh K không có mặt tại Toà án để trình bày ý kiến. Do vậy không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Lò Thị T được miễn án phí theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Chị Lò Thị T khởi kiện đề nghị ly hôn với anh Tòng Văn K nên xác định quan hệ pháp luật là Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Tòng Văn K cư trú tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục hoà giải: Nguyên đơn có đơn đề nghị không hoà giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Sau khi chị T có đơn khởi kiện xin ly hôn Tòa án đã thụ lý và tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Tòng Văn K đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ theo đúng quy định nhưng anh Khương đều không có mặt, việc vắng mặt của anh K Tòa án xác định là do cố tình không hợp tác trong quá trình giải quyết. Do vậy nên Tòa án giải quyết theo thủ tục chung và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị T và anh Tòng Văn K kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Yên Hưng, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La vào năm 2019. Căn cứ Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị T và anh Tòng Văn Kg là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa chị Lò Thị T và anh Tòng Văn K có nhiều mâu thuẫn, anh chị không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Căn cứ vào Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Thư và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho chị T ly hôn anh K là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị T và anh K g có một người con là Tòng Minh T sinh ngày 09/7/2016 hiện nay đang do anh Kh trông nom, chăm sóc, chị Thư nhất trí để anh K g tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc. Xét thấy quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành lấy ý kiến của cháu T , cháu T có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn, do vậy cần giao cho anh K tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Tuấn cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế, phù hợp với nguyện vọng của cháu Tuấn và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không tự nguyện cấp dưỡng. Anh K không hợp tác trong việc giải quyết vụ án, nên không xác định được ý kiến của anh. Do vậy không xem xét giải quyết cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai nhận không có nợ chung, tài sản chung không kê khai nên không yêu cầu giải quyết. Anh Khương không hợp tác trong việc giải quyết vụ án, nên không xác định được ý kiến của anh. Do vậy không giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Lò Thị T là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí được Tòa án chấp nhận nên được miễn toàn bộ án phí xin ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân gia đình 2014.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ly hôn của chị Lò Thị T đối với anh Tòng Văn K .

Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Tòng Văn K .

2. Về con chung: Giao cho anh Tòng Văn K g trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng nuôi, giáo dục con Tòng Minh T sinh ngày 09/7/2016 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Lò Thị Thư có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lò Thị T được miễn nộp án phí ly hôn theo quy định.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị T , anh Tòng Văn K được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ