vanban.org

Bản án 43/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 14/03/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Việt S. Buộc bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Việt S số tiền 29.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành xong khoản tiền trên, thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N phải chịu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N trả cho ông số tiền vay 22.000.000 đồng và tiền lãi tính đến thời điể…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Việt S. Buộc bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Việt S số tiền 29.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/DS-ST
Ngày 14-3-2024
V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Luân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Giang

Ông Đào Việt Khái

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

Ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 448/2023/TLST-DS ngày 12/10/2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST- DS ngày 06 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm: 1977 (có mặt).

Địa chỉ: K 1, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Lê Văn B, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Bà Dƣơng Thị Hằng N, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: T, xã R, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày:

Ngày 06 tháng 01 năm 2022 ông Nguyễn Việt S có cho ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N vay số tiền 25.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 1,67%/ tháng, có làm biên nhận nợ. Theo thỏa thuận đến ngày 06/02/2022 ông B, bà N trả tiền cho ông S. Ông B, bà N có trả được số tiền 3.000.000 đồng (vào các ngày 06/05/2022 và ngày 10/09/2022). Số tiền còn nợ 22.000.000 đồng. Ông S nhiều lần yêu cầu ông B, bà N thanh toán nợ nhưng cứ hẹn mà không trả tiền. Ông S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N trả cho ông số tiền vay 22.000.000 đồng và tiền lãi tính đến thời điểm xét xử ngày 14/3/2024 số tiền 7.736.164 đồng, tổng vốn và lãi là 29.736.164 đồng.

Đối với bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N có nơi cư trú tại huyện P, nguyên đơn ông Nguyễn Việt S khởi kiện ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” nên Tòa án nhân dân huyện P thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đối với ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N nhưng ông B, bà N vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông B, bà N là phù hợp với quy định.

Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Nguyễn Việt S khởi kiện bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N về việc bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền vay số tiền 22.000.000 đồng và tiền lãi 7.736.164 đồng . Xét tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Xét về nội dung tranh chấp: Tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S xác định Ngày 06 tháng 01 năm 2022 ông Nguyễn Việt S có cho ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N vay số tiền 25.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 1,67%/ tháng, có làm biên nhận nợ. Theo thỏa thuận đến ngày 06/02/2022 ông B, bà N trả tiền cho ông S. Ông B, bà N có trả được số tiền 3.000.000 đồng, còn nợ 22.000.000 đồng, ông S nhiều lần yêu cầu ông B, bà N thanh toán nợ nhưng cứ hẹn mà không trả tiền. Tại phiên tòa ông S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N trả cho ông số tiền vay 22.000.000 đồng và tiền lãi tính đến thời điểm xét xử ngày 14/3/2024 số tiền 7.736.164 đồng, tổng vốn và lãi là 29.736.164 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, Biên nhận nợ ngày 06/01/2022 nguyên đơn ông Nguyễn Việt S cung cấp cho Tòa án có ký tên và ghi họ tên ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N nhưng không có người chứng kiến và không có người xác nhận nên chưa đủ cơ sở để xác định là chữ ký của ông B, bà N. Tuy nhiên trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì. Như vậy bị đơn ông B, bà N đã thừa nhận nợ và còn nợ tiền nguyên đơn ông S nên không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Việt S là có căn cứ nên cần buộc bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Việt S số tiền vay 22.000.000 đồng, tiền lãi tính đến thời điểm xét xử ngày 14/3/2024 số tiền 7.736.164 đồng, tổng vốn và lãi là 29.736.164 đồng là phù hợp.

Xét về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Việt S. Buộc bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Việt S số tiền 29.736.164 đồng (Hai mươi chín triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành xong khoản tiền trên, thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lê Văn B, bà Dương Thị Hằng N phải chịu 1.486.808 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí 743.000 đồng, theo biên lai thu số 0019223 ngày 11 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được được hoàn lại.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án đựơc niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ