vanban.org

Bản án 43/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Trần Văn S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 468, Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S phạm tội theo Điều 260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HSST
Ngày: 26/4/2023
s

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Cơ

Ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phƣơng Thùy – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bão - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2023/HSST ngày 30 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn S - Sinh ngày 20/6/1988 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 24 phường N, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính; Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn Đ (C) và bà: Trần Thị Ph; Tiền án, tiền sự: Không; Gia đình có 13 anh em, bị cáo là con út; Chưa có vợ, con.

Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Đỗ Tấn K (Đã chết); Địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Đại diện hợp pháp của ông Khoa: Ông Đỗ Văn P, sinh năm 1956 và bà Phan Thị S1, sinh năm 1963 (Là cha mẹ ruột của người bị hại); Địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Có mặt.

Đại diện theo ủy quyền TGTT: Bà Đỗ Thị Th, sinh năm 1993 (Chị ruột của người bị hại); Địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Có mặt.

* Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ 16 phường N, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 31/8/2022, Trần Văn S (không có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe mô tô biển số 72K1-098.04 có nồng độ cồn trong máu 40,8 mmol/L (quy đổi là 188,0064 miligam/100 mililít máu) lưu thông từ kiệt 816 Nguyễn Lương B, phường N ra đường Nguyễn Lương B rồi S cho xe rẽ trái đi ngược chiều theo hướng Huế - Đà Nẵng của phần đường Nguyễn Lương B (phần đường này có hướng Đà Nẵng - Huế), tiếp đó S điều khiển xe mô tô biển số 72K1-098.04 đi hướng cắt chéo ngang qua đường Nguyễn Lương B vào làn đường thứ nhất (làn đường dành cho xe ô tô) sát dải phân cách cứng, đi ngược chiều làn đường này, S quan sát về phía bên phải và phía khoảng mở giữa hai đầu dải phân cách cứng với mục đích sẽ di chuyển xe chuyển hướng vào khoảng mở qua đúng phần đường để đi về nhà, không quan sát về phía trước, không biết có phương tiện lưu thông theo hướng Đà Nẵng - Huế. Khi S điều khiển xe mô tô biển số 72K1-098.04 lưu thông ngược chiều theo hướng Huế - Đà Nẵng trên làn đường sát dải phân cách với tốc độ khoảng 20km/h đến khu vực trước số 808 Nguyễn Lương B thì xảy ra va chạm giao thông với xe mô tô biển số 77D1-630.88 do anh Đỗ Tấn K điều khiển có nồng độ cồn trong máu 40,5 mmol/L (quy đổi là 186,642 miligam/100 mililít máu) lưu thông theo hướng Đà Nẵng - Huế trên làn đường thứ nhất (làn đường dành cho xe ô tô) sát với dải phân cách cứng làm anh Khoa, S cùng hai xe mô tô ngã xuống mặt đường và được người dân đưa đi bệnh viện cấp cứu. Hậu quả: anh Đỗ Tấn K tử vong vào ngày 07/9/2022, Trần Văn S bị thương, hai xe mô tô biển số 72K1-098.04 và biển số 77D1-630.88 bị hư hỏng.

* Kết quả trƣng cầu giám định, định giá tài sản:

- Ngày 07/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu ra Quyết định ủy thác giải quyết nguồn tin về tội phạm số: 50/QĐ-UTGQNT, ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tiến hành trưng cầu giám định và giám định đối với tử thi Đỗ Tấn K. Ngày 05/10/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định ra Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 324/2002/PY-TT, kết luận: Nguyên nhân chết của Đỗ Tấn K là chấn thương gây vỡ sọ, dập não, chảy máu nội sọ chèn ép não đã phẫu thuật, điều trị không hồi phục.

- Ngày 04/11/2022, Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1551/KL-KTHS, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Văn S tại thời điểm giám định là: 58% (Năm mươi tám phần trăm).

- Ngày 09/12/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu có Bản kết luận định giá tài sản số: 145/KL-HĐĐGTS:

+ Giá trị thiệt hại của 01 xe mô tô đã sử dụng có nhãn hiệu HONDA-Vario, màu sơn: Trắng-đen BKS: 77D1-630.88 có số khung: MH1JM5118LK672226, số máy: JM51E1671983 là: 15.870.000 đồng (Mười lăm triệu tám trăm bảy mươi ngàn đồng).

+ Giá trị thiệt hại của 01 xe mô tô đã sử dụng, màu sơn: Đen –trắng, gắn BKS: 72K1-098.04 có số khung: RLCS5C6107Y070176, số máy: 5G61-070176 là: 4.505.000 đồng (Bốn triệu năm trăm lẻ năm ngàn đồng).

Tổng giá trị của các tài sản bị thiệt hại nêu trên là: 20.375.000 đồng (Hai mươi triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

* Đồ vật, tài sản tạm giữ và xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số 77D1-630.88, số máy: JM51E1671983, số khung: 5118LK672226.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 77D1-630.88 số: 047568 đứng tên Đỗ Tấn K.

- 01 giấy phép lái xe số: 520204006847 hạng A1 mang tên Đỗ Tấn K.

- 01 xe mô tô có gắn biển số: 72K1-098.04, số máy: 5G61-070176, số khung: RLCS5C6107Y070176.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 72K1-098.04 số: 009501.

Về phần dân sự: Đại diện gia đình bị hại yêu cầu bồi thường bao gồm:

- Tiền điều trị tại bệnh viện 21 triệu;

- Tiền xe đưa từ ĐN về Bình Định 6 triệu;

- Tiền mai táng hậu sự 30 triệu;

- Tiền xây mộ 25 triệu;

- Tiền sữa chữa xe mô tô 28 triệu;

- Tiền tổn thất tinh thần 40 triệu.

Tổng số tiền yêu cầu là 150 triệu. Trần Văn S và gia đình đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Đỗ Tấn K số tiền 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng). Chị Đỗ Thị Th là đại diện hợp pháp của nạn nhân Đỗ Tấn K yêu cầu bồi thường thêm số tiền 124.000.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu đồng).

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố bị cáo Trần Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn S về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ: Điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn S mức án từ 24 - 30 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình người bị hại yêu cầu bị cáo Trần Văn S phải bồi thường thêm số tiền 124.000.000đ, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp của người bị hại thay đổi yêu cầu, chỉ đề nghị bị cáo bồi thường số tiền tổn thất về tinh thần là 76.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 26.000.000đ, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu tự nguyện của đại diện hợp pháp người bị hại, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 50.000.000đ.

- Về vật chứng:

Đối với xe mô tô 77D1-630.88, số máy JM51E1671983, số khung 5118LK672226; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 77D1-630.88 số: 047568 đứng tên Đỗ Tấn K và 01 giấy phép lái xe số: 520204006847 hạng A1 mang tên Đỗ Tấn K, ngày 27/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 01/QĐ-CSĐT bằng hình thức: Trả lại các tài sản, giấy tờ trên cho đại diện gia đình nạn nhân Đỗ Tấn K là phù hợp, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với xe mô tô, gắn biển số: 72K1-098.04, số máy: 5G61-070176, số khung: RLCS5C6107Y070176 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 72K1-098.04 số: 009501. Quá trình điều tra, Trần Văn S khai: Khoảng tháng 8/2019, chị ruột của S là Trần Thị Mỹ H cho S chiếc xe mô tô trên kèm 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô. Ngày 31/8/2022, S điều khiển xe mô tô thì xảy ra tai nạn giao thông. Tuy nhiên, qua tra cứu biển số xe 72K1-098.04 có kết quả biển số xe này là của xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn: đen - trắng, có số máy: 5C64-739589, số khung: RLCS5C640CY739592. Số máy, số khung tra cứu nêu trên không trùng với số máy, số khung của xe mô tô có gắn biển số 72K1-098.04 hiện đang tạm giữ của Trần Văn S (chiếc xe tạm giữ này có số máy: 5G61-070176, số khung: RLCS5C6107Y070176). Qua điều tra, chị Trần Thị Mỹ H cho biết: Khoảng tháng 8/2019, tại địa bàn phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, chị H mua chiếc xe mô tô gắn biển số: 72K1-098.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy 72K1-098.04 số: 009501 của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 10 triệu đồng. Khi mua xe thì chị H thấy trên xe có gắn biển số 72K1-098.04 và đặc điểm xe đúng như trong giấy chứng nhận đăng ký xe nên tin tưởng mua xe và không kiểm tra số khung, số máy. Sau khi mua xe, chị H không sử dụng xe mà cho Trần Văn S chiếc xe này kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe nêu trên.

Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô biển số 72K1-098.04 nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen trắng, số máy: 5C64-739589, số khung: RLCS5C640CY739592 và giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy 72K1-098.04 - số 009501 do Công an huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 29/03/2012, đứng tên Lưu Thị M. Ngày 28/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định ủy thác giải quyết nguồn tin về tội phạm số: 61/QĐ-CSĐT, ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm việc với bà Lưu Thị M để làm rõ nguồn gốc của xe mô tô 72K1-098.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô nêu trên. Qua xác minh, Công an huyện Long Điền cung cấp bà Lưu Thị M không có mặt tại địa phương, không rõ bà Mai đang làm gì, ở đâu.

Đối với chiếc xe mô tô có số máy: 5G61-070176, số khung: RLCS5C6107Y070176 (hiện đang tạm giữ), qua tra cứu có thông tin như sau: Biển số xe 82H1-020.01, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3, số loại: 110, dung tích xi lanh: 107, nhãn hiệu: ESPERO, màu sơn: Vàng; số máy: 070176, số khung: 070176; người đứng tên chủ xe: Hồ Văn B, địa chỉ: Thôn Tân Lập A, xã Đăk Hring, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum, đăng ký ngày: 30/6/2011. Ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định ủy thác điều tra số: 03/QĐ-CSĐT ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum làm việc với ông Hồ Văn B để làm rõ nguồn gốc của chiếc xe mô tô này. Qua xác minh, Công an huyện Đắk Hà cung cấp ông Hồ Văn B không có mặt tại địa phương, không rõ ông Bốn đang làm gì, ở đâu.

Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu phương tiện xe mô tô biển số: 72K1-098.04, chủ sở hữu Giấy đăng ký xe mô tô 72K1-098.04 và ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu phương tiện xe mô tô biển số xe 82H1-020.01 nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan CSĐT tiếp tục tạm giữ 01 chiếc xe mô tô có số máy 5G61-070176, số khung: RLCS5C6107Y070176, trên xe gắn biển số: 72K1-098.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 72K1-098.04 số: 009501 để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng. Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng tội, không oan. Bị cáo đã nhận thấy sai trái và rất ăn năn về hậu quả mình đã gây ra, bản thân bị cáo cũng bị thương tích 58%. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện hợp pháp người bị hại có mặt tại phiên tòa xin Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 31/8/2022, Trần Văn S không có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển xe mô tô biển số 72K1-098.04 có nồng độ cồn trong máu 188,0064 miligam/100 mililít máu lưu thông ngược chiều của làn đường sát giải phân cách cứng (làn đường dành cho xe ô tô) của phần đường Nguyễn Lương B (có hướng Đà Nẵng - Huế) và thiếu chú ý quan sát về phía trước, dẫn tới khi đến khu vực trước số 808 Nguyễn Lương B thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 77D1-630.88 do anh Đỗ Tấn K điều khiển có nồng độ cồn trong máu 186,642 miligam/100 mililít máu lưu thông trên làn đường sát dải phân cách cứng (làn đường dành cho xe ô tô) theo hướng Đà Nẵng - Huế. Hậu quả anh Đỗ Tấn K bị thương được đưa đi cấp cứu đến ngày 07/9/2022 tử vong, Trần Văn S bị thương với tỉ lệ thương tích là 58%.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9 và khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả làm một người chết. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Khi tham gia giao thông đường bộ bị cáo Trần Văn S đã không chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ, không có giấy phép lái xe hợp lệ, có nồng độ cồn trong máu 188,0064 miligam/100 mililít máu, lưu thông ngược chiều, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng làm chết một người. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý do cẩu thả, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt thỏa đáng, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi tai nạn xảy ra bản thân bị cáo cũng bị thương tích 58%. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đã bồi thường khắc phục cho gia đình bị hại được 26 triệu đồng. Tại phiên tòa, đại diện của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Đỗ Văn P và bà Phan Thị S1 (cha mẹ ruột của bị hại) yêu cầu bị cáo Trần Văn S bồi thường tổng số tiền 76.000.000đ; bị cáo cũng đã chấp nhận bồi thường số tiền này. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên nên HĐXX chấp nhận.

Bị cáo Trần Văn S đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Đỗ Tấn K số tiền 26.000.000đ, số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô 77D1-630.88, số máy JM51E1671983, số khung 5118LK672226; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 77D1-630.88 số: 047568 đứng tên Đỗ Tấn K và 01 giấy phép lái xe số: 520204006847 hạng A1 mang tên Đỗ Tấn K, ngày 27/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 01/QĐ-CSĐT bằng hình thức: Trả lại các tài sản, giấy tờ trên cho đại diện gia đình nạn nhân Đỗ Tấn K là phù hợp, HĐXX không xem xét.

- Đối với xe mô tô, gắn biển số: 72K1-098.04, số máy: 5G61-070176, số khung: RLCS5C6107Y070176 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 72K1-098.04 số: 009501. Quá trình điều tra, Trần Văn S khai: Khoảng tháng 8/2019, chị ruột của S là Trần Thị Mỹ H cho S chiếc xe mô tô trên kèm 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô. Ngày 31/8/2022, S điều khiển xe mô tô thì xảy ra tai nạn giao thông. Tuy nhiên, qua tra cứu biển số xe 72K1-098.04 có kết quả biển số xe này là của xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn: đen - trắng, có số máy: 5C64-739589, số khung: RLCS5C640CY739592. Số máy, số khung tra cứu nêu trên không trùng với số máy, số khung của xe mô tô có gắn biển số 72K1-098.04 hiện đang tạm giữ của Trần Văn S (chiếc xe tạm giữ này có số máy: 5G61-070176, số khung: RLCS5C6107Y070176). Qua điều tra, chị Trần Thị Mỹ H cho biết: Khoảng tháng 8/2019, tại địa bàn phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, chị H mua chiếc xe mô tô gắn biển số: 72K1-098.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy 72K1-098.04 số: 009501 của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 10 triệu đồng. Khi mua xe thì chị H thấy trên xe có gắn biển số 72K1-098.04 và đặc điểm xe đúng như trong giấy chứng nhận đăng ký xe nên tin tưởng mua xe và không kiểm tra số khung, số máy. Sau khi mua xe, chị H không sử dụng xe mà cho Trần Văn S chiếc xe này kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe nêu trên.

Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô biển số 72K1-098.04 nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen trắng, số máy: 5C64-739589, số khung: RLCS5C640CY739592 và giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy 72K1-098.04 - số 009501 do Công an huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 29/03/2012, đứng tên Lưu Thị M. Ngày 28/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định ủy thác giải quyết nguồn tin về tội phạm số: 61/QĐ-CSĐT, ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm việc với bà Lưu Thị M để làm rõ nguồn gốc của xe mô tô 72K1-098.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô nêu trên. Qua xác minh, Công an huyện Long Điền cung cấp bà Lưu Thị M không có mặt tại địa phương, không rõ bà Mai đang làm gì, ở đâu.

Đối với chiếc xe mô tô có số máy: 5G61-070176, số khung: RLCS5C6107Y070176 (hiện đang tạm giữ), qua tra cứu có thông tin như sau: Biển số xe 82H1-020.01, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3, số loại: 110, dung tích xi lanh: 107, nhãn hiệu: ESPERO, màu sơn: Vàng; số máy: 070176, số khung: 070176; người đứng tên chủ xe: Hồ Văn B, địa chỉ: Thôn Tân Lập A, xã Đăk Hring, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum, đăng ký ngày: 30/6/2011. Ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định ủy thác điều tra số: 03/QĐ-CSĐT ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum làm việc với ông Hồ Văn B để làm rõ nguồn gốc của chiếc xe mô tô này. Qua xác minh, Công an huyện Đắk Hà cung cấp ông Hồ Văn B không có mặt tại địa phương, không rõ ông Bốn đang làm gì, ở đâu.

Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu phương tiện xe mô tô biển số: 72K1-098.04, chủ sở hữu Giấy đăng ký xe mô tô 72K1-098.04 và ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu phương tiện xe mô tô biển số xe 82H1-020.01 nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan CSĐT tiếp tục tạm giữ 01 chiếc xe mô tô có số máy 5G61-070176, số khung: RLCS5C6107Y070176, trên xe gắn biển số: 72K1-098.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 72K1-098.04 số: 009501 để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp, đúng quy định, HĐXX không xem xét.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Anh Đỗ Tấn K điều khiển xe mô tô biển số 77D1-630.88 có nồng độ cồn trong máu 186,642 miligam/100 mililít máu không đi đúng làn đường, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và xảy ra va chạm giao thông với xe mô tô của Trần Văn S. Hành vi của anh Đỗ Tấn K vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại rượu, bia năm 2019, khoản 1 Điều 9, và khoản 23 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ, tuy nhiên sau tai nạn anh Khoa đã tử vong nên Cơ quan điều tra không đề cập là có căn cứ, HĐXX không xem xét.

Đối với bà Trần Thị Mỹ H đã mua chiếc xe mô tô gắn biển số 72K1-098.04 của người đàn ông không rõ lai lịch, thấy chiếc xe có đặc điểm, màu sơn xe giống với thông tin trên giấy đăng ký xe biển số 72K1-098.04 nên bà H tin tưởng mua xe, không kiểm tra số khung, số máy của xe. Đối với người đàn ông bán cho bà H chiếc xe mô tô trên, do bà H không nhớ đặc điểm nhận dạng, không xác định được chỗ ở, lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ, HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Căn cứ: Điểm a, b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Trần Văn S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 468, Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015.

Buộc bị cáo Trần Văn S phải tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại Đỗ Tấn K số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu thêm khoản lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ