- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Nh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH ––––––––––– Bản án số: 43/2023/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 28-7-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lường Khắc Tiệp;
Ông Hà Bá Khiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2023/TLST - HS ngày 08 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 34/2023/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Hà Văn Nh, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1994 tại huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình; nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện M, tỉnh Hoà Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H, sinh năm 1970 và bà Lò Thị K, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, tại Quyết định số 37/QĐ - TA chấp hành xong ngày 03/10/2020, bị cáo thừa nhận có sử dụng, nghiện chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 25/02/2023, chuyển tạm giam ngày 06/3/2023. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/02/2023, tổ công tác Công an huyện Mai Châu phối hợp với Công an xã T đang làm nhiệm vụ tại xóm Ch, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình thì phát hiện Hà Văn Nh đang điều khiển xe mô tô BKS 28H1-616.5x đi từ hướng tổ dân phố Ch, thị trấn M đi xóm Ch, xã T có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trên tay phải Hà Văn Nh có 01 gói giấy màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng và 01 viên nén màu hồng nghi là ma túy. Nh khai nhận đây là ma túy của Nh tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu, Hà Văn Nh khai nhận về nguồn gốc số ma túy trên như sau:
Chiều ngày 25/02/2023, tại nhà ở của mình tại xóm Đ, xã T, huyện Mai Châu, Nh có hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen bạc có biển kiểm soát 28H1-616.5x của bạn là Bùi Văn H sinh năm 1992, trú tại xóm G, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình để đi có việc và được H đồng ý cho mượn. Mượn được xe, Nh điều khiển xe mô tô đi từ nhà vào xóm Ch, theo hướng đường chân núi xuống tổ dân phố Ch để tìm mua ma túy. Trên đường đi Nh có gặp một người đàn ông giống người nghiện ma túy, nên đã dừng lại để hỏi mua ma túy với người này và được người này bán cho 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 viên nén màu hồng với số tiền 120.000 đồng. Mua được ma túy Nh cầm trên tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến xóm Ch, xã T thì bị tổ công tác Công an huyện Mai Châu phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tiến hành lấy lời khai của Bùi Văn H xác định: H và Hà Văn Nh có mối quan hệ bạn bè với nhau, khi mượn xe mô tô của H, Nh nói rằng mượn xe đi có việc, H không biết, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nh.
Tại Kết luận giám định số: 81/KL-KTHS ngày 03/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đã kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,14 gam, là ma túy, loại Herione; Viên nén màu hồng có khối lượng 0,09 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKS-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Hà Văn Nh về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Hà Văn Nh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Hà Văn Nh từ 14 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/02/2023.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28H1- 616.5x mà bị cáo khai sử dụng đi mua ma túy, qua điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của ông Bùi Văn M, là bố đẻ của anh Bùi Văn H, việc Nh sử dụng xe mô tô nêu trên anh H và ông M không biết, không có lỗi, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Bùi Văn M, nên không đề nghị xem xét xử lý.
Về vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hà Văn Nh, Nh không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ rõ đặc điểm nên không xác định được là ai, không có căn cứ đề nghị xử lý.
- Đối với Bùi văn H là người cho Nh mượn xe mô tô sử dụng vào việc mua ma túy, việc Nh sử dụng xe mô tô đi mua ma túy Hợp không biết, không liên quan nên không đề nghị xem xét xử lý.
Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, do nghiện ma túy, tàng trữ để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác. Sau sự việc xảy ra đã thành khẩn khai báo mong được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/02/2023, tại xóm Ch, xã T, huyện M, Hòa Bình, Hà Văn Nh bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroine và 0,09 gam Methamphetamine cầm ở tay phải của mình. Tổng khối lượng ma túy Hà Văn Nh tàng trữ là 0,23 gam, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân, không có mục đích gì khác. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Hà Văn Nh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Chứng cứ xác định không có tội: Không có.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp đẩy lùi, tiến tới loại bỏ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Bản thân bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không tiến bộ mà trái lại vẫn sử dụng chất ma túy, cố tình phạm tội, tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Từ tính chất mức độ, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên, xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Hà Văn Nh phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Hà Văn Nh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Hà Văn Nh 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 25/02/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số chất ma túy còn lại sau khi giám định, đã hoàn trả được niêm phong trong 01 phong bì.
(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 45/THA ngày 17/7/2023 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Hà Văn Nh phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh HB; - STP tỉnh HB; - Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT; - VKSND huyện MC; - Cơ quan ĐT; Nhà tạm giữ CA huyện MC; - Chi cục THA dân sự; - Hồ sơ THAHS; - UBND xã T; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Phạm Thanh Tùng |