- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Văn C, Trương Văn C1, Đặng Tấn P, Võ Hoàng T, Lê Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HS-ST Ngày: 16-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T – THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Thanh Giàu
2. Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Trương Văn C; sinh ngày 18/09/1987; Nơi sinh: tỉnh BL; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Hòa 1, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh BL; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: phụ hồ; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông Trương Văn O, sinh năm: 1949 và bà Phạm Thị L, sinh năm: 1952; gia đình có 06 anh chị em bị cáo là con thứ tư; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị giam giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Trương Văn C1; sinh ngày 01/01/1985; Nơi sinh: tỉnh BL; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Hòa 1, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh BL; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: phụ hồ; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Trương Văn O, sinh năm: 1949 và bà Phạm Thị L, sinh năm: 1952; gia đình có 06 anh chị em bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị Tường V, sinh năm: 1985; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị giam giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Đặng Tấn P, sinh ngày 01/01/1974; Nơi sinh: Thành phố CT; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp TL, xã TT, huyện CĐ, Thành phố CT; Nơi tạm trú: 41/16/22 đường Tam Bình, khu phố 2, phường TP, thành phố T, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: phụ hồ; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Đặng Tấn T (đã chết), và bà Nguyễn Thị B, sinh năm: không rõ; gia đình có 05 anh em bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lê Thị Thanh M, sinh năm: 1985; Bị cáo có Bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị giam giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Võ Hoàng T, sinh năm: 1983; Nơi sinh: tỉnh AG; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp BQ, xã BT, huyện CP, tỉnh AG; Nơi tạm trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 00/12; Con ông Võ Văn V, sinh năm: không rõ và bà Ngô Thị X, sinh năm: không rõ; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con út; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị giam giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Lê Văn D, sinh ngày 12/03/1992; Nơi sinh:tỉnh ĐT; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp LAA, xã P, huyện T, tỉnh ĐT; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 00/12; Con ông Lê Văn T, sinh năm: 1969 và bà Bùi Thị T, sinh năm: 1973, gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Dương Thị Minh K, sinh năm: 1990; Bị cáo có bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị giam giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ, ngày 02/01/2022 tại bãi đất trống tổ 27, Khu phố 3, phường AP, thành phố T, Thành phố H, Trương Văn C tổ chức cho 02 nhóm đá gà ăn thua bằng tiền, với số tiền cược mỗi bên là 4.000.000 đồng, để thu tiền xâu, cứ 1.000.000 đồng tiền cá cược thì C lấy 50.000 đồng tiền xâu, cụ thể: Nhóm bắt con gà bướm trắng nặng 2,4 kg, gồm: Võ Hoàng T, Lê Văn D và T2 cùng một số người khác (không rõ lai lịch). Nhóm bắt con gà chuối, nặng 2,4 kg, gồm: Đặng Tấn P, Trương Văn C1 và T3 và bạn C T3 (không rõ lại lịch). Đến 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi hai bên đã cáp độ xong và thả gà thì Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố T đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang đưa Võ Hoàng T, Lê Văn D, Đăng Tấn Phong, Trương Văn C1 về trụ sở làm việc, các đối tượng còn lại, không rõ lai lịch chạy thoát mang theo con gà bướm trắng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo Võ Hoàng T, Lê Văn D, Đặng Tấn P, Trương Văn C1, Trương Văn C nhưng Trương Văn C1, Trương Văn C bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định truy nã đối với Trương Văn C1, Trương Văn C. Đến ngày 28/11/2022, Trương Văn C bị bắt theo quyết định truy nã C Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T. Ngày 02/12/2022, Trương Văn C1 đến Công an phường AP đầu thú.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trương Văn C, Trương Văn C1, Đặng Tấn P, Võ Hoàng T, Lê Văn D đã thừa nhận hành vi phạm tội C mình như đã nêu trên, đồng thời khai nhận:
- Trương Văn C khai nhận: C làm thợ hồ, khi đi qua bãi đất trống thấy 02 đối tượng tên T2 và T3 (không rõ lai lịch) mang gà đến đá, mục đích đến xem nhưng sau đó không có ai làm trọng tài nên C tự nhận đứng ra làm trọng tài cho nhóm C T2 do T2 là chủ gà bướm trắng đá với nhóm C T3 do T3 là chủ gà chuối, với số tiền cá cược là 4.000.000 đồng mỗi bên. Bản thân C chỉ biết Trương Văn C1 (em ruột C), C không quen biết với các bị cáo Đặng Tấn P, Lê Văn D, Võ Hoàng T và một số đối tượng khác có liên quan. C lấy tiền xâu là 5% C bên thắng. Lúc bị bắt quả tang C đã chạy trốn.
- Trương Văn C1 khai nhận: Có mang theo 1.700.000 đồng nhưng chỉ bỏ ra 1.000.000 đồng; Đặng Tấn P bỏ ra 1.000.000 đồng, T3 và bạn C T3 bỏ ra 2.000.000 đồng để đủ 4.000.000 đ ồng bắt con gà chuối do T3 là chủ gà đá độ với con gà bướm trắng bên nhóm còn lại. Trận gà này do Trương Văn C làm trọng tài và thu tiền xâu. Đến 12 giờ 15 phút, ngày 02/01/2022 khi hai bên đã cáp độ xong và thả gà vào bắt đầu đá thì Công an thành phố T bắt quả tang.
- Đặng Tấn P khai nhận: Phong mang theo số tiền 3.000.000 đồng nhưng chỉ bỏ ra 1.000.000 đồng cùng với Trương Văn C1, T3 và một số người khác (không rõ lai lịch) hùn lại đủ số tiền 4.000.000 đồng để bắt con gà chuối do T3 là chủ gà đá độ với con gà bướm trắng bên nhóm còn lại. Trận gà này do Trương Văn C làm trọng tài và thu tiền xâu. Đến 12 giờ 15 phút, ngày 02/01/2022 khi hai bên đã cáp độ xong và thả gà vào bắt đầu đá thì Công an thành phố T bắt quả tang.
- Võ Hoàng T khai nhận: T mang theo số tiền 3.800.000 đồng nhưng chỉ sử dụng số tiền 500.000 đồng; Lê Văn D bỏ ra 500.000 đồng; T2 và một số người khác (không rõ lai lịch) bỏ ra số tiền 3.000.000 đồng hùn lại đủ số tiền 4.000.000 đồng để dùng vào việc đánh bạc. Lúc bị bắt quả tang, thu giữ trên người T số tiền 3.800.000 đồng.
- Khi đánh bạc Lê Văn D mang theo số tiền 6.000.000 đồng nhưng chỉ sử dụng số tiền 500.000 đồng cùng với Võ Hoàng T, T2 và một số người khác (không rõ lai lịch) hùn lại đủ số tiền 4.000.000 đồng bắt con gà bướm trắng do T2 là chủ gà đá độ với con gà chuối bên nhóm còn lại. Trận gà này do Trương Văn C làm trọng tài và thu tiền xâu. Đến 12 giờ 15 phút, ngày 02/01/2022 khi hai bên đã cáp độ xong và thả gà vào bắt đầu đá thì Công an thành phố T bắt quả tang.
- Những người liên quan, gồm: T2, T3, bạn T3 và một số đối tượng khác (không rõ lai lịch) có liên quan đến việc đánh bạc nhưng đã chạy thoát.
* Vật chứng và đồ vật thu giữ gồm:
- 01 con gà đá nặng 2.4kg (Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao Chi cục Thú y tiêu hủy); 01 (một) cặp cựa đá gà bằng sắt (đã qua sử dụng); 01 (một) cái cân loại 5 kg (đã qua sử dụng); 03 (ba) cuộn băng keo (đã qua sử dụng);
- 1.700.000 đồng (trong đó có 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh (đã qua sử dụng), thu giữ C Trương Văn C1;
- 3.000.000 đồng (trong đó có 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen (đã qua sử dụng), thu giữ C Đặng Tấn P;
- 3.800.000 đồng (trong đó có 500.000 đồng dùng để đánh bạc) và 01 (một) xe mô tô hiệu Honda CiT2 màu đỏ, biển số 53P1-1192 (đã qua sử dụng), thu giữ C Võ Hoàng T;
- 6.000.000 đồng (trong đó có 500.000 đồng dùng để đánh bạc), 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng, biển số 66N1-361.99 (đã qua sử dụng) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc (đã qua sử dụng), thu giữ C Lê Văn D.
Tổng số tiền thu giữ C các con bạc và tại chiếu bạc: 14.500.000 đồng (trong đó: Thu giữ C Có là 1.700.000 đồng; thu giữ C Phong 3.000.000 đồng, thu giữ C Thuận 3.800.000 đồng; thu giữ C Dương 6.000.000 đồng).
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSTP.TĐ ngày 28/12/2022, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố T đã truy tố các bị cáo Trương Văn C, Trương Văn C1, Đặng Tấn P, Võ Hoàng T, Lê Văn D về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đối với Trương Văn C là người đứng ra tổ chức, có thu tiền xâu nhưng số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng và chưa đủ số người tham gia đánh bạc nên không truy tố Trương Văn C về tội “Tổ chức đánh bạc” mà chỉ truy tố C về tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trương Văn C từ 10 (mười) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo, Trương Văn C1, Võ Hoàng T, Lê Văn D từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đặng Tấn P 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 năm; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước tiền dùng đánh bạc 3.000.000 đồng, tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 (một) cặp cựa đá gà bằng sắt (đã qua sử dụng); 01 (một) cái cân loại 5 kg (đã qua sử dụng); 03 (ba) cuộn băng keo (đã qua sử dụng); trả lại số tiền thu giữ C các bị cáo, không dùng vào việc đánh bạc: Trả lại cho bị cáo Trương Văn C1 số tiền 1.000.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Đặng Tấn P số tiền 2.000.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Lê Văn D số tiền 5.500.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Võ Hoàng T số tiền 3.300.000 đồng. Đối với tang vật là xe mô tô thu giữ C bị cáo T và điện thoại thu giữ C các bị cáo C, P, D, các bị cáo không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho các bị cáo.
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng C Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH C TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, Quyết định tố tụng C Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Quy định C Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định C Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và Quyết định tố tụng C Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ lời khai C các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02 tháng 01 năm 2022, tại bãi đất trống, Tổ 27, Khu phố 3, phường AP, thành phố T, Thành phố H, Trương Văn C có hành vi tổ chức cho Trương Văn C1, Đặng Tấn P, Võ Hoàng T, Lê Văn D và một số đối tượng khác đánh bạc trái phép (chưa xác định rõ số lượng cụ thể các con bạc tham gia đánh bạc). Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 8.000.000 đồng. Hành vi C các bị cáo Trương Văn C, Trương Văn C1, Đặng Tấn P, Võ Hoàng T, Lê Văn D đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai C các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng C Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đối với các bị cáo Trương Văn C, Trương Văn C1, Đặng Tấn P, Võ Hoàng T, Lê Văn D là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất vụ án:
Trong vụ án này, bị cáo Trương Văn C là người tổ chức cho người khác đánh bạc, có thu tiền xâu nhưng số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng và số người xác định được chưa đủ số lượng người tham gia đánh bạc nên không truy tố Trương Văn C về tội “Tổ chức đánh bạc” mà chỉ truy tố C về tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm với các bị cáo Trương Văn C1, Đặng Tấn P, Võ Hoàng T, Lê Văn D. Các bị cáo Trương Văn C1, Đặng Tấn P, Võ Hoàng T, Lê Văn D đã cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất bộc phát, giản đơn, không có sự bàn bạc, rủ rê, lôi kéo nhau đánh bạc từ trước. Hành vi C các bị cáo thực hiện đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc trái phép sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng muốn kiếm tiền nhanh các bị cáo vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật rất kém. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội C các bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo đều có nhân thân tốt, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên giảm cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Đối với bị cáo Đặng Tấn P đề nghị cho được hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngoài những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên với thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, không gây nguy hiểm cho xã hội, cần tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, sửa chữa lỗi lầm của mình dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương.
Với nhận định như trên và theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 C Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo Đặng Tấn P đủ điều kiện được hưởng án treo và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với các đối tượng T2, T3, bạn T3 và một số người khác có liên quan đến việc đánh bạc đã chạy thoát, chưa xác định rõ nhân thân lại lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) cặp cựa đá gà bằng sắt (đã qua sử dụng); 01 (một) cái cân loại 5 kg (đã qua sử dụng); 03 (ba) cuộn băng keo (đã qua sử dụng), là những vật chứng vụ án và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Tổng số tiền thu giữ của các bị cáo và tại chiếu bạc là 14.500.000 đồng. Trong đó: Số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 3.000.000 đồng (bị cáo C1 sử dụng 1.000.000 đồng, bị cáo P sử dụng 1.000.000 đồng, bị cáo T sử dụng 500.000 đồng, bị cáo D sử dụng 500.000 đồng) nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
+ Trả lại cho bị cáo Trương Văn C1 số tiền 1.000.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Đặng Tấn P số tiền 2.000.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Lê Văn D số tiền 5.500 .000 đồng; Trả lại cho bị cáo Võ Hoàng T số tiền 3.300.000 đồng;
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh (đã qua sử dụng), thu giữ của Trương Văn C1, Có không sử dụng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo C1;
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen (đã qua sử dụng), thu giữ của Đặng Tấn P, Phong không sử dụng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo P;
- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda CiT2 màu đỏ (đã qua sử dụng), biển số 53P1-1192. Số khung: CT 100E-1146872, số máy: CT100E-1146572 bị cáo T không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo;
- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng, biển số 66N1-361.99 (đã qua sử dụng) bị cáo D sử dụng để đi đến tham gia đánh bạc, qua xác minh xác định anh Bùi Chí H là chủ sở hữu, bị cáo D mượn của anh H và anh H không biết D mượn xe đi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra trả lại cho anh H là có căn cứ. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc (đã qua sử dụng), thu giữ của Lê Văn D, Dương không sử dụng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo D.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 22/QĐ-VKSTPTĐ ngày 30/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T và Biên lai thu tiền số AA/2021/0006597 ngày 13/01/2023 C Chi cục thi hành án Dân sự thành phố T).
[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Trương Văn C, Trương Văn C1, Đặng Tấn P, Võ Hoàng T, Lê Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
2. Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Trương Văn C 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022.
- Xử phạt bị cáo Trương Văn C1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2022.
- Xử phạt bị cáo Võ Hoàng T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2022.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2022.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đặng Tấn P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01(một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đặng Tấn P, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Đặng Tấn P cho Ủy ban nhân dân phường TP, thành phố T, Thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đặng Tấn P có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 C Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt trước C bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cặp cựa đá gà bằng sắt (đã qua sử dụng); 01 (một) cái cân loại 5 kg (đã qua sử dụng); 03 (ba) cuộn băng keo (đã qua sử dụng).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng.
- Trả lại cho bị cáo Võ Hoàng T 01 (một) xe mô tô hiệu Honda CiT2 màu đỏ (đã qua sử dụng), biển số 53P1-1192. Số khung: CT 100E-1146872, số máy: CT100E-1146572.
- Trả lại cho bị cáo Trương Văn C1 số tiền 1.000.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Đặng Tấn P số tiền 2.000.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Lê Văn D số tiền 5.500 .000 đồng; Trả lại cho bị cáo Võ Hoàng T số tiền 3.300.000 đồng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 22/QĐ-VKSTPTĐ ngày 30/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T và Biên lai thu tiền số AA/2021/0006597 ngày 13/01/2023 C Chi cục thi hành án Dân sự TP Thủ Đức).
5. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 C Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Trương Văn C phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- Bị cáo Trương Văn C1 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- Bị cáo Đặng Tấn P phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- Bị cáo Võ Hoàng T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- Bị cáo Lê Văn D phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
6. Căn cứ vào Điều 331; Điều
333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo Bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Đã giải thích chế định án treo.
| Nơi nhận: - Tòa án NDTP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Công an TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Các bị cáo; - UBND phường Tam Bình, thành phố T; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |