vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 11/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao Thúy D phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Cao Thúy D 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "D- đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Thúy D phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 11-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Thới

Bà Lê Thị Kiều Oanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Thúy D, sinh năm: 1984; tại tỉnh Vĩnh Long; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nơi ĐK HKTT và chỗ ở: phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: không; con ông Cao Văn L (chết); con bà Lâm Thị Mai X, sinh năm 1957; chồng: Mai Văn H, sinh năm 1967; con: 02 người: lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2016.

Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liEn quan:

1. Trần Văn E, sinh năm: 1965; nơi cư trú: xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

2. Huỳnh Trần Thị H1, sinh năm: 1988; nơi cư trú: xã V, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; chỗ ở: phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

3. Trần Thị Yến N, sinh năm: 1955; nơi cư trú: phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

4. Trần Bích T, sinh năm: 1960; nơi cư trú: phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

5. Phạm P B, sinh năm: 1976; nơi cư trú: phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

6. LE Hoài T2, sinh năm: 1997; nơi cư trú: phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

7. Võ Thị Yến P, sinh năm: 1977; nơi cư trú: xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

8. Phan Long T3, sinh năm: 1997; nơi cư trú: phường TH, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 30/12/2022, nhận được tin báo của quần chúng Nhân dân, Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Vĩnh Long T2 hành kiểm tra và bắt quả tang bị cáo Cao Thúy D đang hoạt động mua bán số đề tại phường T, thành phố Vĩnh Long. Nội dung mua bán số đề được thể hiện trong phần tin nhắn SMS, tin nhắn ứng dụng Zalo và điện thoại trực tiếp trong điện thoại di động hiệu Oppo A55 màu xanh có sim số 0788.935.011 của D và 01 phơi đề.

Việc mua bán số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết các đài Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình Dương mở thưởng ngày 30/12/2022. Lực lượng Công an T2 hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra xác định: ngày 30/12/2022, bị cáo D dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các đài Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình Dương, có hành vi làm thầu bán số đề cho nhiều người chơi trực tiếp ăn thua bằng tiền, gồm: Trần Văn E, Huỳnh Trần Thị H1, Trần Thị Yến N, Trần Bích T, Phạm P B, Lê Hoài T2, Võ Thị Yến P, Phan Long T3. Cơ quan điều tra tiến hành mời các đối tượng trên về trụ sở để ghi lời khai thì tất cả đều thừa nhận có mua số đề của D, cụ thể như sau:

Qua đối chiếu các con số đề trong điện thoại của D xác định có 08 người mua số đề của D dựa trên kết quả xổ số các đài Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình Dương mở thưởng ngày 30/12/2022, gồm:

- Trần Văn E sử dụng sim số 0916181916 điện thoại cho D mua 06 con số đề với số tiền 900.000 đồng.

- Huỳnh Trần Thị H1 sử dụng sim số 0706301187 nhắn tin cho D mua 01 con số đề với số tiền 162.000 đồng.

- Trần Thị Yến N sử dụng sim số 0365015928 điện thoại cho D mua 08 con số đề với số tiền 2.400.000 đồng.

- Trần Bích T sử dụng sim số 0786.492.559 nhắn tin cho D mua 03 con số đề (bao lô ba đài) với số tiền đánh bạc là 1.620.000 đồng.

- Phạm P B sử dụng sim số 0939077163 nhắn tin Zalo cho D mua 03 con số đề với số tiền 970.000 đồng.

- Lê Hoài T2 sử dụng sim số 0899282949 nhắn tin cho D mua 02 con số đề với số tiền 2.130.000 đồng.

- Võ Thị Yến P sử dụng sim số 0769337811 nhắn tin Zalo cho D mua 09 con số đề với số tiền 530.000 đồng.

- Phan Long T3 sử dụng sim số 0379309358 điện thoại cho D mua 03 con số đề với số tiền 750.000 đồng.

Bị cáo còn bán số đề cho một người thanh niên tên thường gọi là Cường (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) 03 con số đề với số tiền 600.000 đồng.

Tổng số tiền Cao Thúy D tham gia đánh bạc trong ngày 30/12/2022 là 10.062.000 đồng.

Bị cáo D thừa nhận đã hoạt động mua bán số đề từ ngày 23/12/2022 đến ngày 30/12/2022 thì bị bắt. Hình thức bán số đề: người mua số đề sẽ nhắn tin SMS hoặc nhắn tin qua mạng xã hội zalo vào số điện thoại 0788.935.011 của bị cáo D hoặc gặp trực tiếp bị cáo D để mua số đề. Số tiền mà bị cáo thu lợi được từ việc bán số đề đến ngày bị bắt là 750.000 đồng, bị cáo tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản cáo trạng số: 28/CT-VKSNDTPVL ngày 23/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo Cao Thúy D về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia xét xử đã nêu quan điểm luận tội: Khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Thúy D từ 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng.

Buộc bị cáo Cao Thúy D phải nộp số tiền đánh bạc 600.000đồng và 750.000đồng tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Trần Văn E phải nộp số tiền đánh bạc 900.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Huỳnh Trần Thị H1 phải nộp số tiền đánh bạc 162.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Trần Thị Yến N phải nộp số tiền đánh bạc 2.400.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Trần Bích T phải nộp số tiền đánh bạc 1.620.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Phạm P B phải nộp số tiền đánh bạc 970.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Lê Hoài T2 phải nộp số tiền đánh bạc 2.130.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Võ Thị Yến P phải nộp số tiền đánh bạc 530.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Phan Long T3 phải nộp số tiền đánh bạc 750.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có sim 0788.935.011 là công cụ bị cáo dùng để đánh bạc; Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo hứa không tái phạm nữa. Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T2 hành tố tụng, người T2 hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan T2 hành tố tụng, người T2 hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận:

Vào ngày 30/12/2022, bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức là làm thầu đề bán số đề cho Trần Văn E, Huỳnh Trần Thị H1, Trần Thị Yến N, Trần Bích T, Phạm P B, Lê Hoài T2, Võ Thị Yến P, Phan Long T3 và một số người khác không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền dùng để đánh bạc là 10.062.000 đồng. Bị cáo đã thu lợi từ việc bán số đề từ ngày 23/12/2022 đến ngày 30/12/2022 số tiền 750.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời trình bày của những người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

Trong thời gian gần đây tình hình tội phạm diễn ra phức tạp, trong đó có tội đánh bạc diễn ra ở nhiều nơi, bằng nhiều hình thức được thua bằng tiền khác nhau làm hao tổn vật chất, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và nhiều loại tội phạm khác ... làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, lợi dụng vào hoạt động xổ số kiến thiết của Nhà nước để đánh bạc nhằm thu lợi bất chính, xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Số tiền bị cáo tham gia đánh bạc không lớn và xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo như phân tích trên là không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đã đủ răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Ngoài ra, bị cáo còn bán số đề cho một người thanh niên tên thường gọi Cường với số tiền 600.000đồng. Do bị cáo không rõ họ tên, địa chỉ của Cường nên bị cáo phải nộp số tiền đánh bạc 600.000đồng và 750.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung quỹ Nhà nước.

Do những người mua số đề của bị cáo đều chưa trả tiền cho bị cáo nên buộc họ nộp lại số tiền đánh bạc để sung quỹ Nhà nước. Bao gồm: Trần Văn E phải nộp 900.000đồng; Huỳnh Trần Thị H1 phải nộp 162.000đồng; Trần Thị Yến N phải nộp 2.400.000đồng; Trần Bích T phải nộp 1.620.000đồng; Phạm P B phải nộp 970.000đồng; Lê Hoài T2 phải nộp 2.130.000đồng; Võ Thị Yến P phải nộp 530.000đồng và Phan Long T3 phải nộp 750.000đồng.

Đây là loại tội phạm ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người phụ nữ tên thường gọi là “B”. Do không xác định được họ, tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không làm việc được khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Đối với Trần Văn E, Huỳnh Trần Thị H1, Trần Thị Yến N, Trần Bích T, Phạm P B, Lê Hoài T2, Võ Thị Yến P, Phan Long T3 là những người mua số đề của bị cáo, do số tiền dùng để đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nEn Công an thành phố Vĩnh Long xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.

Đối với những người không rõ họ tên và địa chỉ đã mua số đề của bị cáo D khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là đúng quy định.

Xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng, có một thẻ sim mobifone có số seri: 8401200293046181, có niêm phong chữ ký của Huỳnh Thị Yến N và Nguyễn Ngọc N2.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Như đã phân tích trên nên đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Cao Thúy D phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Cao Thúy D 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Buộc bị cáo Cao Thúy D phải nộp lại số tiền đánh bạc 600.000đồng và 750.000đồng tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung quỹ Nhà nước. Tổng cộng bị cáo phải nộp 1.350.000đ (một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng).

Buộc Trần Văn E phải nộp số tiền đánh bạc 900.000đồng (chín trăm ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Huỳnh Trần Thị H1 phải nộp số tiền đánh bạc 162.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Trần Thị Yến N phải nộp số tiền đánh bạc 2.400.000đồng (hai triệu bốn trăm ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Trần Bích T phải nộp số tiền đánh bạc 1.620.000đồng (một triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Phạm P B phải nộp số tiền đánh bạc 970.000đồng (chín trăm bảy mươi ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Lê Hoài T2 phải nộp số tiền đánh bạc 2.130.000đồng (hai triệu một trăm ba mươi ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Võ Thị Yến P phải nộp số tiền đánh bạc 530.000đồng (năm trăm ba mươi ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Buộc Phan Long T3 phải nộp số tiền đánh bạc 750.000đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng, có một thẻ sim mobifone có số seri: 8401200293046181, có niêm phong chữ ký của Huỳnh Thị Yến Ngọc và Nguyễn Ngọc Nương (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/3/2023 giữa Công an thành phố Vĩnh Long và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long).

3. Án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Cao Thúy D nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đới với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ