vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 26/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Lại Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Lại Ngọc H 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ Th (26/5/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Ngọc H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T L
TỈNH H N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 26 - 5 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T L, TỈNH H N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ Th gồm có:

Th phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại Xuân Cảnh;

Các Hội Th nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mai - Giáo viên nghỉ hưu.

2. Bà Cao Thị Duyên Hà - Chủ ti ̣ch Hô ̣i Liên hiệp Phụ nữ huyê ̣n Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T L tham gia phiên toà: ông Từ Văn Tiền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T L, tỉnh H N xét xử sơ Th công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

- Lại Ngọc H - sinh ngày 18/5/2005; nơi cư trú: tổ dân phố T L, thị trấn T T, huyện T L, tỉnh H N; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn B và bà Lương Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo được tại ngoại, hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: ông Lại Văn B - sinh năm 1976, nghề nghiệp: lao động tự do, là bố của bị cáo và bà Lương Thị T - sinh năm 1981, nghề nghiệp: lao động tự do, là mẹ của bị cáo; cùng nơi cư trú: tổ dân phố T L, thị trấn T T, huyện T L, tỉnh H N; ông B có mặt, bà Thanh vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị Hải Y- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H N; có mặt.

- Bị hại: bà Vũ Thị Đ - sinh năm 1974 (đa chết);̃

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

1. Ông Vũ Văn H1 - sinh năm 1945 (bố đẻ bà Đ); nơi cư trú: thôn Đức Hòa, xã Thanh T, huyện T L, tỉnh H N;

2. Ông Trần Văn T - sinh năm 1972 (chồng bà Đ);

3. Anh Trần Văn Th - sinh năm 1996 (con trai bà Đ);

4. Chị Trần Thị D - sinh năm 1999 (con gái bà Đ);

5. Chị Trần Hồng D1- sinh năm 2012 (con gái bà Đ);

Cùng nơi cư trú: Thôn 1 Tg, xã T H, huyện T L, tỉnh H N

- Người đại diê ̣n theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại: ông Trần Mạnh Thắng - sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn 1 Tg, xã T H, huyện T L, tỉnh H N có mặt.

- Người có quyền lợi, nghia vụ liên quan đến vụ á n:

̃

1. Công ty TNHH Đắc L; địa chỉ: tổ dân phố Đ L1, phường Y B, thị xã D T, tỉnh H N; người đại diện theo pháp luật: ông NguyễnĐắc L - chức vụ: Chủ tịch kiêm Giám đốc công ty; vắng mặt.

2. Ông Phạm Văn H2 - sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố số 4, thị trấn H M, thị xã D T, tỉnh H N; vắng mặt.

- Người làm chứ ng:

1. Bà Đỗ Thị P - sinh năm 1981; vắng mặt.

2. Anh Đoàn Ngọc S - sinh ngày 29/11/2005; người đại diện hợp pháp: bà Lê Thị Bảy Th2 - sinh năm 1978 (là mẹ của anh S); anh S và bà Thương đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 22/11/2022, Lại Ngọc H điều khiển xe máy điện không đeo biển kiểm soát (BKS) chở phía sau bạn học là Đoàn Ngọc S đi trên đường ĐT499B, theo hướng Cầu Nga đi Quốc lộ 1A. Khi đi đến Km 5+50 đường ĐT499B thuộc địa phận tổ dân phố N, thị trấn T T, huyện T L, tỉnh H N, thì thấy xe ô tô BKS 90H-009.88 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67 do ông Phạm Văn H2 điều khiển đang đi phía trước cùng chiều. H không bật tín hiệu đèn xin vượt, mà điều khiển xe máy điện vượt lên về phía bên trái sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67 và đi sang chiều đường hướng Quốc lộ 1A đi Cầu Nga. Cùng lúc đó, có xe mô tô BKS 90B1-755.81 do bà Vũ Thị Đ điều khiển đang đi đến từ hướng ngược chiều, nên H đánh lái sang bên trái để tránh. Do không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn trong khi vượt xe, dẫn đến má lốp bên pH bánh trước xe máy điện do Lại Ngọc H điều khiển xô vào càng xe phía trước bên pH xe mô tô BKS 90B1-755.81 do bà Vũ Thị Đ điều khiển đang đi ở giữa làn đường hướng Quốc lộ 1A đi Cầu Nga (ngược chiều với xe máy điện do H điều khiển), làm bà Đ ngã đập đầu vào mặt ngoài bánh lốp ngoài cầu trục thứ nhất bên trái sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67 do ông Phạm Văn H điều khiển, Lại Ngọc H và Đoàn Ngọc S ngã theo xe máy điện ra đường. Hậu quả: bà Đ bị thương nặng, đến 14 giờ 45 phút cùng ngày thì tử vong, xe máy điện và xe mô tô BKS 90B1-755.81 bị hư hỏng nhẹ, anh Đoàn Ngọc S không bị thương tích gì.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện T L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông.

* Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô BKS 90H-009.88 kéo sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67 kèm 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự; 01 Giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và 01 Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đối với xe ô tô BKS 90H-009.88; 01 Giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và 01 Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đối với xe rơ moóc BKS 90R-008.67; 01 xe mô tô BKS 90B1-755.81 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trần Văn T; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ; 01 xe máy điện không đeo biển kiểm soát; 01 đôi dép xốp; 01 Giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Phạm Văn H2.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn trích xuất, sao lưu hình ảnh có liên quan đến vụ tai nạn trong 01 USB, niêm phong ký hiệu M4; thu mẫu nước tiểu của ông Phạm Văn H2, Lại Ngọc H niêm phong ký hiệu M1, M2; thu mẫu máu và mẫu nước tiểu của bà Vũ Thị Đ, niêm phong ký hiệu N1, N2; thu mẫu vật chất màu đỏ dạng S và 02 mảnh sợi màu đen dạng tóc người trên vành la răng bánh lốp ngoài trục số 1 bên trái sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1, A2.

Tiến hành đo nồng độ cồn đối với Lại Ngọc H và Phạm Văn H2, kết quả 0.000mg/L.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T L đã ra quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H N: xác định nguyên nhân tử vong của nạn nhân Vũ Thị Đ, xác định nồng độ cồn trong máu và chất ma túy trong nước tiểu thu giữ của nạn nhân Vũ Thị Đ, giám định chất ma túy trong nước tiểu thu giữ của Phạm Văn H2, Lại Ngọc H.

Tại bản Kết luận giám định số 676/KL-KTHS ngày 28/11/2022, Kết luận giám định số 679/KL-KTHS ngày 30/11/2022 và Kết luận giám định số 680/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H N kết luận:

“Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa trong các mẫu nước tiểu ký hiệu N2 gửi giám định.

Tìm thấy Ethanol (cồn) trong mẫu máu ký hiệu N1 ghi thu của tử thi Vũ Thị Đ (sinh năm 1974, trú tại: xã Thanh Hương, huyện T L, tỉnh H N) gửi giám định. Nồng độ Ethanol (cồn) là: 41,52mg/100ml máu.

Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa trong các mẫu nước tiểu ký hiệu M1, M2 gửi giám định”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 707/KL-KTHS ngày 09/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H N kết luận:

“1. Các kết quả chính

- Các vết sây sát, rách, lóc da, bầm tím tại vùng đầu, mặt, tay pH. Hướng tổn thương chủ yếu từ trên xuống dưới.

- Tụ máu lan tỏa toàn bộ da đầu hai bên và cơ thái dương hai bên. Vỡ xương thái dương - chẩm trái lan xuống nền sọ, lan lên xương đỉnh và xương trán pH. Tụ máu ngoài và dưới màng cứng vùng thái dương - đỉnh - chẩm trái. Chảy máu màng mềm lan tỏa hai bên bán cầu đại não. Tổ chức não phù căng.

- Xét nghiệm nồng độ Ethanol (cồn) trong máu: 41,52mg/100ml.

- Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu: không tìm thấy các chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa.

2. Kết luận

Nguyên nhân tử vong của bà Vũ Thị Đ: chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ, tụ máu ngoài và dưới màng cứng, chảy máu màng mềm, phù não) trên người có nồng độ Ethanol (cồn) trong máu 41,52mg/100ml./.”.

* Về trách nhiệm dân sự: ông Phạm Văn H2 và đại diện Công ty TNHHĐắc L đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình nạn nhân số tiền 80.000.000 đồng; Lại Ngọc H đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 210.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự và làm đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Lại Ngọc H; anh Đoàn Ngọc S không bị thương tích, nên không có đề nghị gì.

* Về xử lý vật chứng: trong giai đoạn điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T L đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại 01 xe ô tô BKS 90H-009.88, 01 sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67 cùng các giấy tờ liên quan cho Công ty TNHHĐắc L; trả lại 01 xe mô tô BKS 90B1-755.81 kèm theo giấy tờ liên quan và 01 mũ bảo hiểm cho chồng bà Đ là ông Trần Văn T; trả lại 01 xe máy điện không BKS, 01 đôi dép xốp cho Lại Ngọc H và mẹ của H là bà Lương Thị T; trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Phạm Văn H2 cho ông Phạm Văn H2.

Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKS-TA ngày 26/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện T L đã truy tố Lại Ngọc H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T L giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lại Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự - xử phạt bị cáo Lại Ngọc H từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - tịch thu, tiêu hủy mẫu vật chất màu đỏ dạng S và 02 mảnh sợi màu đen dạng tóc người, niêm phong trong phong bì ký hiệu A1, A2; lưu trong hồ sơ vụ án 01 USB, niêm phong trong phong bì ký hiệu M4.

- Ngườ i bào chữa và người đại diện hợp pháp của bị cáo: nhất trí với tội danh, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo với mức hình phạt thấp nhất, cho bị cáo được hưởng án treo.

- Bị cáo Lại Ngọc H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tu ̣ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đi ̣nh như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về Th quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Lại Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được Th tra tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm tử thi, Biên bản khám phương tiện liên quan, Bản kết luận giám định pháp y về tử thi, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: khoảng 13 giờ ngày 22/11/2022, Lại Ngọc H điều khiển xe máy điện không đeo BKS, phía sau chở bạn học là Đoàn Ngọc S đi trên đường ĐT499B theo hướng Cầu Nga đi Quốc lộ 1A. Khi đi đến Km 5+50 đường ĐT499B thuộc địa phận tổ dân phố N, thị trấn T Thanh, huyện T L, tỉnh H N, Lại Ngọc H điều khiển xe máy điện đi sang chiều đường Quốc lộ 1A đi Cầu Nga để vượt xe ô tô BKS 90H-009.88 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67 do ông Phạm Văn H2 điều khiển đang đi phía trước cùng chiều. Do không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn trong khi vượt xe, dẫn đến xe máy điện do H điều khiển xô vào xe mô tô BKS 90B1-755.81 do bà Vũ Thị Đ điều khiển đang đi ở giữa chiều đường hướng Quốc lộ 1A đi Cầu Nga, làm xe mô tô do bà Đ điều khiển bị đổ, bà Đ ngã đập đầu vào mặt ngoài bánh lốp phía ngoài cầu trục thứ nhất bên trái sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67 dẫn đến bị thương nặng và tử vong hồi 14 giờ 45 phút ngày 22/11/2022, xe máy điện và xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Hành vi nêu trên của Lại Ngọc H đã vi phạm khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ, là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông, dẫn đến hậu quả bà Vũ Thị Đ tử vong. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm hại đến tính mạng của người khác. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của Lại Ngọc H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T L truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: gia đình bị cáo đã “tự nguyện bồi thường thiệt hại”, bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; khi thực hiện hành vi phạm tội thì bi ̣ cáo là người dưới 18 tuổi, hiện nay bị cáo đang là học sinh. Vì vậy, xét thấy không cần pH bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, giúp bi ̣ cáo sử a chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao, hợp nhất Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Th phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Hình phạt bổ sung: bị cáo Lại Ngọc H khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, nên theo quy định tại khoản 6 Điều 91 của Bộ luật Hình sự thì không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo, ông Phạm Văn H, đại diện Công ty TNHHĐắc L và người đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết xong, nay không còn yêu cầu, đề nghị gì; nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe ô tô BKS 90H-009.88, 01 sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67 kèm theo giấy tờ liên quan là tài sản, giấy tờ hợp pháp của Công ty TNHHĐắc L; 01 xe mô tô BKS 90B1-755.81 kèm theo giấy tờ liên quan và 01 mũ bảo hiểm là tài sản, giấy tờ hợp pháp của chồng bà Đ là ông Trần Văn T; 01 xe máy điện không BKS, 01 đôi dép xốp là tài sản hợp pháp của Lại Ngọc H; 01 giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Phạm Văn H2 là giấy tờ hợp pháp của ông Phạm Văn H2: Cơ quan CSĐT Công an huyện T L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản, đồ vật, giấy tờ trên cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp bị hại là đúng pháp luật.

- Đối với 01 USB: đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo; nên cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

- Đối với mẫu vật chất màu đỏ dạng S và 02 mảnh sợi màu đen dạng tóc người: đây là vật chứng, không có giá trị sử dụng; nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

- Đối với hành vi của ông Phạm Văn H2: ông H khi điều khiển xe ô tô đã đi đúng phần đường, không biết việc bà Đ bị ngã đập đầu vào mặt ngoài bánh lốp sơ mi rơ moóc, nên tiếp tục điều khiển xe ô tô BKS 90H-009.88 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 90R-008.67 rời khỏi hiện trường để đi lấy hàng. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện T L không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông H về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” hoặc hành vi “Không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng” là đúng pháp luật.

Về án phí: bị cáo H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Lại Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt bị cáo Lại Ngọc H 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ Th (26/5/2023).

Giao bị cáo Lại Ngọc H cho Ủy ban nhân dân thị trấn T T, huyện T L, tỉnh H N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lại Ngọc H.

2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy mẫu vật chất màu đỏ dạng S, niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 và 02 mảnh sợi màu đen dạng tóc người, niêm phong trong phong bì ký hiệu A2 (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện T L); lưu trong hồ sơ vụ án 01 USB, niêm phong trong phong bì ký hiệu M4.

3. Án phí: bị cáo Lại Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ