vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 29/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày, bị cáo còn phải thi hành tiếp 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt. Miễn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lò văn pha - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 29/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nam Giang và ông Lò Văn Yêu.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn P, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Sinh ngày 09 tháng 5 năm 1996, tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản Đoàn Kết, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Lào. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Con ông: Lò Văn P, sinh năm 1975, Con bà: Lò Thị S, sinh năm 1976. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Lò Thị H, sinh năm 1999. Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ hồi 14 giờ 40 phút ngày 03/01/2023, đến ngày 12/01/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đến nay (Có mặt).

- Người làm chứng:

Lò Văn S, sinh năm 1997. Trú tại: Bản Đoàn Kết, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 03/01/2023, trên đường đi làm về Lò Văn P gặp Lò Văn S, sinh năm 1997, trú cùng bản đang đi xe mô tô xuống thị trấn Tân Uyên nên P xin đi nhờ xe của S để đi mua thức ăn, S đồng ý. Sau đó Si điều khiển xe mô tô chở P đi đến tổ dân phố 3, thị trấn Tân Uyên để mua đồ rồi cùng quay về. Trên đường về đến khu vực cổng chào thuộc tổ dân phố 3, thị trấn Tân Uyên P bảo S dừng xe chờ để P đi có việc riêng, S đồng ý. Sau đó P đi bộ vào đồi chè gần đó gặp và hỏi mua được một gói Heroin được gói bằng mảnh giấy bạc màu trắng của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch với giá 200.000 đồng, mục đích để Pha mang về sử dụng. Mua được Heroin, P cầm ở trong lòng bàn tay phải rồi đi ra chỗ S đang chờ nhưng không nói cho S biết việc P vừa đi mua và đang tàng trữ Heroin. Sau đó S tiếp tục điều khiển xe mô tô chở P đi về, khi về đến cửa hàng tạp hóa thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên P nói với S dừng xe để P vào cửa hàng gần đó để mua thức ăn còn S ở ngoài đường đợi. Khi P đang đi vào cửa hàng thì bị Công an thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên kiểm tra, bắt quả tang đối với Lò Văn P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ ở trong lòng bàn tay phải của Lò Văn P 01 gói Heroin được gói bằng mảnh giấy bạc màu trắng có khối lượng 0,15 gam.

Ngày 03/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 07/KL-TCGĐ ngày 03/01/2023 của người giám định tư pháp, kết luận vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lò Văn P có khối lượng là 0,15 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã trích 0,08 gam trong tổng số 0,15 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Văn P theo P khai nhận là Heroin gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 70/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 (một) Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroin.

Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKS-TU, ngày 17/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Lò Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lò Văn P thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, trong quá trình xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hồi 11 giờ, ngày 03/01/2023, tại tổ dân phố 5, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Lò Văn P đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,15 gam được gói bằng một mảnh giấy bạc màu trắng, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị trấn Tân Uyên huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo Lò Văn P là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo ý thức được điều đó nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Lò Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên được bố mẹ nuôi dưỡng tại Bản Đoàn Kết xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên và học hết lớp 9/12 rồi bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình rồi xây dựng gia đình. Ngày 03/01/2023 bị cáo bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất đến ngày 12/01/2023 bị cáo bị khởi tố.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án phù hợp, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có cơ sở đúng pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo nghề nghiệp là làm ruộng, thu nhập thấp, khó khăn về kinh tế. Do đó Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án gồm: 0,15 gam Heroin, đã trích gửi giám định 0,08 gam Cơ quan giám định lưu mẫu không hoàn lạị mẫu vật do vậy Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

Vật chứng còn lại sau giám định gồm: 0,07 gam Heroin, 01 mảnh giấy bạc màu trắng. Hội đồng xét xét xử xác định là vật Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Những vấn đề có liên quan: Về nguồn gốc 0,15 gam Heroin, Lò Văn P khai do P mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại tổ dân phố 3, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên. Quá trình điều tra, không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Lò Văn S là người cho Pha đi nhờ xe mô tô, quá trình điều tra xác định việc Pha đi mua và tàng trữ Heroin mang về thì S không biết nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên không đề cập xử lý với Lò Văn S là có căn cứ, đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày, bị cáo còn phải thi hành tiếp 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, bên trong đựng 0,07 gam Heroin, 01 mảnh giấy bạc màu trắng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 24 tháng 5 năm 2023 giữa cơ quan CSĐT – Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ