- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lương Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06/02/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HS-ST Ngày: 26 – 6 – 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Văn Duẩn.
2/ Ông Phan Bá Lịch.
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2023/TLST – HS ngày 11 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣơng Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1995 tại huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản TM, xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn D và bà Ngân Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2023 đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện chất ma túy nên vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/02/2023 Lương Văn T một mình bắt xe khách từ nhà ở bản TM, xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An đi lên huyện QP, tỉnh Nghệ An với mục đích tìm mua ma túy sử dụng, khi đến khu vực xã MN, huyện QP thì T xuống đi bộ vào một ngõ vắng, tại đó T gặp một người đàn ông có dáng vẻ của người sử dụng ma túy không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ, sau khi bắt chuyện làm quen biết người đàn ông có ma túy bán nên hỏi mua với số tiền 300.000d (Ba trăm nghìn đồng) người đàn ông bán cho T 01 (một) gói ma túy. Sau khi có ma túy T cất giấu vào túi quần đang mặc rồi bắt xe khách đi về nhà, về đến khu vưc bản TM, xã CT, T xuống xe đi vào bụi rậm bên đường lấy một ít ma túy trong gói mua được ra sử dụng, số ma
1
túy còn lại cất giấu vào túi quần để lần sau tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày T tiếp tục đưa gói ma túy đi ra phía sau nhà ở của mình sử dụng một ít, số ma túy còn lại T gói lại bằng mảnh bao nilon cũ rồi cất giấu vào túi quần rồi đi ngủ. Khoảng 7 giờ 30 sáng ngày 06/02/2023 T tiếp tục đưa số ma túy còn lại đến khu vực cầu thuộc bản TM, xã CT tìm nơi tiếp tục sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã CT yêu cầu kiểm tra hành chính bắt quả tang hành vi tàng trữ 01 (một) gói nhỏ có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy) trong túi quần bên trái Tuấn đang mặc, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng, đưa về trụ sở để làm việc, sau đó tiến hành bàn giao người và tang vật cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An giải quyết theo quy định.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 06/02/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xác định: Bên trong gói niêm phong có 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng (nghi là ma túy). Sau khi loại bỏ bao gói, cân trọng lượng số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,105g (không phẩy một trăm linh năm gam) cán bộ kỹ thuật hình sự lấy toàn bộ chất rắn màu trắng nói trên để gửi giám định khối lượng và định tính chất ma túy. Số vật chứng còn lại gồm mảnh bao nilon màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong theo quy định.
Kết luận giám định số: 146/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 10/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lương Văn T gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất rắn màu trắng (01 gói) thu giữ của Lương Văn T có khối lượng là 0,105g (không phẩy một trăm linh năm gam).”
Bản cáo trạng số: 41/CT-VKS-QC ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vỏ, bao gói được niêm phong theo quy định.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Khoảng 7 giờ 30 phút, ngày 06/02/2023 tại khu vực cầu thuộc bản TM, xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Công an xã CT yêu cầu kiểm tra hành chính, bắt quả tang bị cáo Lương Văn T có hành vi tàng trữ 01 (một) gói ma túy (Heroine) trong túi quần bên trái đang mặc, gói ma túy được bọc bên ngoài bằng mảnh bao nilon màu trắng, có khối lượng sau khi loại bỏ bao bì là 0,105g (Không phẩy một trăm linh năm gam), với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và mức hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người và đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, biết rõ và nhận thức được tác hại của chất ma túy nhưng vẫn cố ý phạm tội, nhằm để thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo cho thấy, bị cáo đang bị tạm giam, là lao động tự do, bản thân không có tài sản riêng đảm bảo cho việc thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Theo lời khai của bị cáo, quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người bán ma túy cho bị cáo, nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra làm rõ người thân trong gia đình không biết bị cáo có hành vi tàng trữ chất ma túy nên cơ quan điều tra Công an không xem xét xử lý trách nhiệm là đúng quy định.
Về vật chứng: Khối lượng ma túy Heroine 0,105g (không phẩy một trăm linh năm gam) thu giữ của bị cáo đã sử dụng giám định hết, số vật chứng còn lại gồm mảnh bao nilon màu trắng và vỏ bao gói, phong bì niêm phong là những vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06/02/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mảnh bao nilon màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong trong phong bì thư dán kín theo quy định.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 11/5/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lương Văn T chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Châu; - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu; - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳ Châu; - Cơ quan THADS huyện Quỳ Châu; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - UBND xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - lưu HS, VP; 5 | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |