vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày 29-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Thanh Tùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quốc Minh

Bà Đỗ Thanh Bình

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tốn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2023/TLST-HS, ngày 15 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn S (tên gọi khác không), sinh ngày 09/01/1994, tại Thái Nguyên;

Nơi cư trú và chỗ ở: xóm K, xã Y, huyện P, tỉnh T.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Sán chay; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965; Con bà Âu Thị T, sinh năm 1969; Vợ, con: chưa có

Tiền án: Không

Tiền sự: 03

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 452 ngày 29/6/2022 của Công an xã Y, huyện Phú Lương xử phạt Nguyễn Văn S 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 470 ngày 03/10/2022 của Công an xã Y, huyện Phú Lương xử phạt Nguyễn Văn S 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Tại Quyết định số 566/QĐ -XPTT ngày 27/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Phú Lương, Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Nguyễn Văn S thời hạn 03 tháng. Ngày 27/01/2023 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Lương. (có mặt)

- Người chứng kiến: Anh Dương Văn Q, sinh năm 1970;(vắng mặt).

Địa chỉ: xóm G, xã Y, huyện P, tỉnh T;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 50 phút, ngày 21/3/2023 tổ công tác Công an xã Y đang tiến hành tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự tại xóm T, xã Y, huyện P, tỉnh T phát hiện, bắt quả tang đối với Nguyễn Văn S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại lòng bàn tay phải của S 01 gói chất bột màu trắng, được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh (S khai là Heroine tàng trữ để sử dụng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu A. Công an xã Y đã chuyển hồ sơ, đối tượng, vật chứng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương để điều tra theo thẩm quyền. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn S tại: xóm K, xã Y, huyện P, không phát hiện thu giữ gì liên quan.

Cùng ngày, Tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn S: có khối lượng là 0,287gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).

Tại bản Kết luận giám định số 534/KL-KTHS ngày 29/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: số chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu A1 là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,287 gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn S khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 21/03/2022, S đi bộ ra đường rồi bắt xe buýt đi lên khu vực xóm Trung, xã Y, huyện Phú Lương mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân.Tại đây S gặp và mua của người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng, S cầm gói ma tuý ở bàn tay phải đi bộ ra đoạn đường thuộc xóm Trung, xã Y, huyện Phú Lương thì bị Công an xã Y, huyện Phú Lương phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Lời khai của Nguyễn Văn S phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến.

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSPL ngày 15/6/2023, Viện kiểm sát nhân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Văn S từ 24 đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người chứng kiến không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa anh Dương Văn Q là người chứng kiến trong vụ án: Tòa án đã gửi giấy triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng người chứng kiến vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của người chứng kiến, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Quá trình điều tra, người chứng kiến không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến nên việc vắng mặt họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Việc Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến anh Quang theo quy định.

Xét hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ căn cứ để xác định:

Hồi 14 giờ 50 phút, ngày 21/03/2023, tại khu vực xóm Trung, xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,287 gam ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a, …

c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và 01 lần bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Hành vi của bị cáo là tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, không có mục đích thu lời bất chính nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy túy còn lại sau giám định thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành, mua bán; các vỏ phong bì niêm phong và giấy gói không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án còn có người nam giới đã bán Heroine cho S tại khu vực xóm Trung xã Y, huyện Phú Lương. Do S không biết họ, tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương không có cơ sở xác minh làm rõ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt và các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,277 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1;

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Bên trong có 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A và vỏ giấy gói.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận số 55/2023 ngày 11/6/2023 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ